Thông tin trong nước (số tháng 02 năm 2026)
- Thứ tư - 28/01/2026 21:14
- In ra
- Đóng cửa sổ này
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng. Ảnh: TTXVN
1. Một số nét nổi bật về tình hình kinh tế - xã hội nước ta năm 2025; triển vọng năm 2026
- Tăng trưởng kinh tế năm 2025 tiếp tục duy trì thành tích cao và xu hướng cải thiện rõ nét theo quý, với quý sau cao hơn quý trước. Tổng sản phẩm trong nước (GDP) quý IV/2025 ước tăng 8,46% so với cùng kỳ năm trước, là mức tăng cao nhất của quý IV trong giai đoạn 2011-2025, tiếp đà phục hồi và mở rộng tăng trưởng bền vững của nền kinh tế. Diễn biến theo quý cho thấy tăng trưởng được cải thiện liên tục. Tính chung cả năm 2025, GDP ước tăng 8,02% so với năm trước, chỉ thấp hơn mức tăng của năm 2022 trong giai đoạn 2011-2025. Trong mức tăng tổng giá trị tăng thêm toàn nền kinh tế, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 3,78%, đóng góp 5,30%; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 8,95%, đóng góp 43,62%; khu vực dịch vụ tăng 8,62%, đóng góp 51,08%, tiếp tục giữ vai trò động lực chủ đạo của tăng trưởng.
- Khu vực sản xuất tiếp tục hoạt động ổn định, đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì đà tăng trưởng chung của nền kinh tế:
Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản nhìn chung vẫn được duy trì ổn định, ước tăng 3,78% so với năm trước. Hoạt động khai thác thủy sản tiếp tục là điểm sáng nhờ đẩy mạnh ứng dụng công nghệ cao, cải thiện năng suất và kiểm soát chi phí, trong khi mặt bằng giá bán duy trì ở mức đảm bảo lợi nhuận cho người nuôi.
Khu vực công nghiệp duy trì mức tăng cao, qua đó hỗ trợ đáng kể cho tăng trưởng chung của toàn nền kinh tế. Tốc độ tăng thêm khu vực công nghiệp và xây dựng ở mức cao 9,73%.
Sản xuất công nghiệp tiếp tục duy trì xu hướng tăng trưởng tích cực, chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) quý IV/2025 ước tăng 9,9% so với cùng kỳ năm trước do các doanh nghiệp đẩy mạnh sản xuất chuẩn bị hàng hóa đáp ứng nhu cầu tiêu dùng và xuất khẩu cuối năm. Tính chung năm 2025, chỉ số sản xuất ngành công nghiệp ước tăng 9,2% so với năm trước, là mức tăng cao nhất kể từ năm 2019 đến nay.
- Hoạt động thương mại và dịch vụ tiếp tục tăng trưởng tích cực, phản ánh sự phục hồi rõ nét của cầu tiêu dùng trong nước, du lịch nội địa và đặc biệt là sự bứt phá mạnh mẽ của khách quốc tế đến Việt Nam.
Tính chung cả năm 2025, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước đạt 7.008,9 nghìn tỷ đồng, tăng 9,2% so với năm 2024 (năm 2024 tăng 8,9%); nếu loại trừ yếu tố giá, tăng 6,7%.
Doanh thu dịch vụ lưu trú và ăn uống mở rộng đồng đều của các hoạt động dịch vụ hỗ trợ nền kinh tế.Cả năm 2025, doanh thu dịch vụ lưu trú và ăn uống ước đạt 843,1 nghìn tỷ đồng, chiếm 12,0% tổng mức, tăng 14,6% so với năm trước; doanh thu du lịch lữ hành đạt 93,9 nghìn tỷ đồng, chiếm 1,4%, tăng 20,2%, cho thấy vai trò ngày càng rõ nét của du lịch trong tăng trưởng khu vực dịch vụ; doanh thu dịch vụ khác đạt 736,8 nghìn tỷ đồng, chiếm 10,5%, tăng 11,5%.
Hoạt động vận tải, viễn thông và du lịch năm 2025 phục hồi mạnh mẽ phản ánh hồi phục của nhu cầu đi lại, giao thương, kết nối số và hội nhập quốc tế. Ngành viễn thông tiếp tục chuyển dịch sang hạ tầng số, với doanh thu cả năm ước đạt 380,0 nghìn tỷ đồng, tăng 6,0%, số thuê bao điện thoại đạt 123,6 triệu và thuê bao internet băng rộng cố định đạt 25,1 triệu, phản ánh nhu cầu kết nối chất lượng cao gia tăng. Du lịch quốc tế tăng trưởng đột phá, với gần 21,2 triệu lượt khách quốc tế đến Việt Nam, tăng 20,4%, chủ yếu qua đường hàng không, qua đó tạo động lực quan trọng cho khu vực dịch vụ và khẳng định vị thế ngày càng nâng cao của Việt Nam trong chuỗi du lịch khu vực và toàn cầu.
- Vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội năm 2025 tăng trưởng mạnh, trong đó vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tiếp tục đạt mức cao nhất trong nhiều năm:
Vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội tăng cao. Tổng vốn đầu tư toàn xã hội theo giá hiện hành ước đạt 4.150,5 nghìn tỷ đồng, tăng 12,1% so với năm 2024, cao hơn nhiều mức tăng 7,8% của năm trước.
Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt mức cao. Tính đến ngày 31/12/2025, tổng vốn đầu tư nước ngoài đăng ký vào Việt Nam đạt 38,42 tỷ USD, tăng 0,5% so với năm trước. Vốn đăng ký cấp mới có 4.054 dự án được cấp phép với số vốn đăng ký đạt 17,32 tỷ USD, tăng 20,1% so với năm trước về số dự án và giảm 12,2% về số vốn đăng ký.
Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện tại Việt Nam năm 2025 ước đạt 27,62 tỷ USD, tăng 9,0% so với năm trước. Đây là số vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện cao nhất trong 5 năm qua.
- Thương mại quốc tế sôi động, xuất nhập khẩu đạt mức tăng trưởng cao:
Hoạt động xuất nhập khẩu năm 2025 tăng trưởng mạnh, quy mô thương mại tiếp tục được mở rộng.Tính chung cả năm 2025, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa đạt 930,05 tỷ USD, tăng 18,2% so với năm trước, trong đó xuất khẩu đạt 475,04 tỷ USD, tăng 17,0%, và nhập khẩu đạt 455,01 tỷ USD, tăng 19,4%. Cán cân thương mại hàng hóa xuất siêu 20,03 tỷ USD, mặc dù thấp hơn mức xuất siêu năm 2024 (24,77 tỷ) nhưng vẫn phản ánh khả năng duy trì thặng dư thương mại trong bối cảnh tình hình kinh tế thế giới năm 2025 có nhiều biến động.
Về thị trường, Hoa Kỳ là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch 153,2 tỷ USD, trong khi Trung Quốc là thị trường nhập khẩu lớn nhất với 186,0 tỷ USD. Trong năm 2025, Việt Nam xuất siêu sang Hoa Kỳ 133,9 tỷ USD, nhập siêu lớn từ Trung Quốc (115,6 tỷ USD).
- Lạm phát trong tầm kiểm soát, CPI đạt mục tiêu quốc hội đề ra:
Mặt bằng giá tiêu dùng năm 2025 được kiểm soát hiệu quả, CPI bình quân tăng 3,31% so với năm 2024, đạt mục tiêu Quốc hội đề ra.
Lạm phát cơ bản bình quân năm 2025 tăng 3,21%, thấp hơn CPI chung, cho thấy áp lực lạm phát chủ yếu xuất phát từ các yếu tố giá mang tính hành chính và hàng hóa thiết yếu, trong khi lạm phát do cầu kéo và tiền tệ vẫn được kiểm soát.
- Ngân sách nhà nước năm 2025 vượt dự toán, thu - chi tăng mạnh, củng cố dư địa tài khóa:
Tổng thu ngân sách nhà nước năm 2025 ước đạt 2.650,1 nghìn tỷ đồng, bằng 134,7% dự toán năm và tăng 29,7% so với năm trước. Tổng chi ngân sách nhà nước năm 2025 ước đạt 2.401,5 nghìn tỷ đồng, bằng 93,2% dự toán năm và tăng 31,2% so với năm trước.
Theo các tổ chức nghiên cứu và định chế tài chính quốc tế lớn, triển vọng tăng trưởng kinh tế Việt Nam năm 2026 được đánh giá tích cực nhưng thận trọng, với mức dự báo dao động khá rộng, phản ánh sự đan xen giữa các động lực nội tại và rủi ro bên ngoài. Các tổ chức đa phương, như: IMF, OECD, ADB và World Bank nhìn chung dự báo tăng trưởng GDP Việt Nam quanh mức 5,6-6,1%, nhấn mạnh vai trò của FDI ổn định, tiêu dùng nội địa cải thiện, đầu tư công và môi trường vĩ mô tương đối ổn định như các trụ cột nâng đỡ tăng trưởng. Tuy nhiên, các đánh giá này cũng đồng thời cảnh báo rủi ro ngày càng rõ nét từ tác động trễ của các biện pháp thuế quan của Mỹ, căng thẳng thương mại toàn cầu và điều kiện tài chính quốc tế thắt chặt, có thể làm suy yếu xuất khẩu và đầu tư trong trung hạn.
Ngày 13/01/2026, Quốc hội đã phê duyệt Nghị quyết số 244/2025/QH15 về Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2026. Nghị quyết xác định năm 2026 là năm bản lề có ý nghĩa đặc biệt, gắn với nhiều sự kiện quan trọng, như Đại hội XIV của Đảng, bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026-2031, đồng thời là năm đầu thực hiện Kế hoạch 5 năm 2026-2030, mở ra giai đoạn phát triển mới hướng tới mục tiêu giàu mạnh, thịnh vượng. Nghị quyết nhấn mạnh ưu tiên thúc đẩy tăng trưởng gắn với giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát và bảo đảm các cân đối lớn, đồng thời đẩy mạnh hoàn thiện thể chế, tháo gỡ dứt điểm các điểm nghẽn, khơi thông và giải phóng mọi nguồn lực, nhanh chóng ổn định tổ chức bộ máy và xây dựng nền hành chính tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả. Trên cơ sở đó, Nghị quyết đề ra 15 chỉ tiêu chủ yếu cho năm 2026, nổi bật là phấn đấu tăng trưởng GDP từ 10% trở lên, CPI khoảng 4,5%. Với quyết tâm chính trị cao ngay từ năm đầu nhiệm kỳ và nếu tháo gỡ hiệu quả các điểm nghẽn thể chế, cộng hưởng với những thuận lợi từ kinh tế thế giới, năm 2026 có thể trở thành điểm khởi đầu vững chắc cho một chu kỳ tăng trưởng mới, bền vững và chất lượng hơn.
2. Một số nội dung trọng tâm cần tập trung tuyên truyền sau Đại hội lần thứ XIV của Đảng
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, diễn ra từ ngày 19-23/01/2026. Đây là sự kiện chính trị quan trọng của Đảng, trọng đại của đất nước; là dấu mốc đặc biệt trên con đường phát triển, mở ra kỷ nguyên mới, “kỷ nguyên vươn mình của dân tộc,” “tự chủ, tự tin, tự lực, tự cường, tự hào dân tộc”. Đại hội diễn ra trong bối cảnh quốc tế, khu vực thay đổi nhanh, có nhiều bất ổn, bất định, diễn biến rất phức tạp, khó dự báo; đất nước sau 40 năm đổi mới, cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế đã được nâng lên một tầm cao mới. Đại hội tiến hành kiểm điểm 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng; tổng kết một số vấn đề lý luận và thực tiễn về công cuộc đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa trong 40 năm qua ở Việt Nam; tổng kết công tác xây dựng Đảng và thi hành Điều lệ Đảng; đánh giá 5 năm thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2021-2030, phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2026-2030 và những năm tiếp theo; bầu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIV, nhiệm kỳ 2026-2031.
Nhằm tạo sự thống nhất cao về nhận thức, tư tưởng chính trị và hành động trong Đảng, sự đồng thuận trong xã hội về Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, tạo khí thế phấn khởi, củng cố niềm tin, kỳ vọng của Nhân dân vào sự phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới của dân tộc; cổ vũ hệ thống chính trị và các tầng lớp nhân dân chung sức, đồng lòng tiếp tục nỗ lực, phấn đấu vượt qua mọi khó khăn, thách thức, thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và 96 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (03/02/1930 - 03/02/2026), đề nghị tập trung tuyên truyền một số nội dung trọng tâm sau Đại hội XIV của Đảng như sau:
Thứ nhất, tuyên truyền kết quả bầu cử Ban Chấp hành Trung ương khóa XIV, Bộ Chính trị, Ban Bí thư và các cơ quan lãnh đạo chủ chốt của Đảng; nhấn mạnh tính kế thừa, ổn định và phát triển, sự kết hợp hài hòa giữa tiêu chuẩn, cơ cấu và yêu cầu thực tiễn; khẳng định đội ngũ cán bộ khóa mới đủ phẩm chất, năng lực, uy tín, ngang tầm nhiệm vụ, đáp ứng yêu cầu lãnh đạo đất nước trong giai đoạn phát triển mới. Qua đó, củng cố niềm tin của cán bộ, đảng viên và Nhân dân đối với công tác cán bộ của Đảng; phản bác kịp thời các quan điểm sai trái, xuyên tạc, phủ nhận chủ trương, đường lối và công tác nhân sự Đại hội.
Thứ hai, tập trung làm rõ những nội dung cốt lõi, điểm mới, tư duy mới và đột phá chiến lược của Nghị quyết Đại hội XIV; nhấn mạnh mục tiêu phát triển đất nước nhanh và bền vững, xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ gắn với chủ động, tích cực hội nhập quốc tế; phát triển khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số; phát huy mạnh mẽ mọi nguồn lực, nhất là nguồn lực con người và khu vực kinh tế tư nhân.
Đồng thời, cần khẳng định rõ Nghị quyết Đại hội XIV là sự kế thừa và phát triển sáng tạo đường lối đổi mới của Đảng, là kết quả của quá trình tổng kết sâu sắc lý luận và thực tiễn 40 năm đổi mới; thể hiện tầm nhìn chiến lược, tư duy đổi mới và quyết tâm chính trị cao của Đảng trong việc lãnh đạo đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới.
Thứ ba, tổ chức học tập, quán triệt sâu rộng Nghị quyết Đại hội XIV trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân; làm rõ trách nhiệm của các cấp ủy, tổ chức đảng trong việc xây dựng chương trình hành động, kế hoạch triển khai thực hiện nghị quyết phù hợp với từng cấp, từng ngành, từng địa phương, đơn vị.
Thông qua tuyên truyền, cần tạo sự thống nhất cao về nhận thức và hành động, gắn việc thực hiện Nghị quyết với các phong trào thi đua yêu nước, với việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; đưa nghị quyết sớm đi vào cuộc sống, trở thành động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của Nhân dân.
Thứ tư, tiếp tục tuyên truyền sâu sắc chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế; khẳng định Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy, là thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế.
Đồng thời, đẩy mạnh thông tin đối ngoại về kết quả Đại hội XIV, làm rõ các quan điểm, chủ trương nhất quán của Đảng và Nhà nước ta đến các chính đảng, tổ chức quốc tế, cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài; qua đó nâng cao vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế, góp phần tạo môi trường hòa bình, ổn định cho phát triển đất nước.
Thứ năm, tuyên truyền sâu rộng các phong trào thi đua yêu nước, các hoạt động, công trình chào mừng thành công của Đại hội XIV, Đại hội đảng bộ các cấp và 96 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (03/02/1930 - 03/02/2026); kịp thời phát hiện, biểu dương, nhân rộng các tổ chức đảng, đảng viên và tổ chức, cá nhân tiêu biểu trong các phong trào thi đua trên các lĩnh vực của đời sống xã hội.
Thứ sáu, tuyên truyền, phản ánh sâu sắc không khí phấn khởi, tin tưởng và kỳ vọng của cán bộ, đảng viên và Nhân dân trong nước, cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài sau Đại hội XIV của Đảng; sự quan tâm của các đảng, các nước và tổ chức quốc tế về Đảng Cộng sản Việt Nam, về Đại hội XIV của Đảng, đặc biệt là mong muốn của đảng viên và quần chúng nhân dân đối với Đảng.
Thứ bảy, tuyên truyền nâng cao ý thức cảnh giác, thực hiện tốt công tác bảo vệ chính trị nội bộ, bảo vệ bí mật nhà nước; đấu tranh, phản bác những thông tin, quan điểm sai trái, thù địch, gây mất ổn định chính trị, trật tự, an toàn xã hội, chống phá Đảng, Nhà nước và Đại hội XIV của Đảng, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc.
3. Kết quả công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực năm 2025
Tại Phiên thứ 29 ngày 25/12/2025, Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực (Ban Chỉ đạo) đã đánh giá kết quả công tác năm 2025 trên một số mặt sau:
Năm 2025 là năm cuối thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng trong điều kiện có nhiều khó khăn, thách thức, thiên tai, bão lụt diễn biến phức tạp chưa từng có, gây thiệt hại rất lớn về người và tài sản của Nhà nước và Nhân dân. Ban Chỉ đạo đã bám sát chỉ đạo của Trung ương, tập trung lãnh đạo, chỉ đạo đẩy mạnh công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực (PCTNLPTC), gắn với phát triển kinh tế - xã hội, vận hành chính quyền 2 cấp và tổ chức đại hội đảng bộ các cấp. Công tác PCTNLPTC tiếp tục được chỉ đạo mạnh mẽ, quyết liệt, toàn diện, với nhiều cách làm mới, mang lại hiệu quả rõ rệt, tạo sự đồng thuận, đồng lòng cao trong cán bộ, đảng viên và Nhân dân. Với những kết quả nổi bật là:
Công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế được tập trung chỉ đạo quyết liệt, vừa phục vụ các nhiệm vụ chiến lược, sắp xếp tổ chức bộ máy, đơn vị hành chính các cấp, kiến tạo không gian phát triển mới cho đất nước, vừa khắc phục những sơ hở, bất cập, nâng cao hiệu quả PCTNLPTC. Trong năm, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã ban hành trên 130 văn bản về xây dựng Đảng, hệ thống chính trị và PCTNLPTC. Quốc hội, Chính phủ đã sửa đổi, ban hành 89 luật, hơn 900 nghị định, chỉ thị, nghị quyết; trọng tâm là khắc phục những sơ hở, bất cập, mâu thuẫn, chồng chéo trong các văn bản pháp luật; hoàn thiện thể chế về hoạt động của bộ máy nhà nước theo mô hình chính quyền ba cấp, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Các bộ, ngành, địa phương đã sửa đổi, bổ sung, ban hành gần 12.000 văn bản hướng dẫn thực hiện các quy định của pháp luật về quản lý kinh tế - xã hội, góp phần nâng cao hiệu quả PCTNLPTC.
Công tác phát hiện, xử lý tham nhũng, lãng phí, tiêu cực tiếp tục được đẩy mạnh; các cơ quan chức năng đã tập trung kiểm tra, thanh tra, điều tra, xử lý dứt điểm các vụ án, vụ việc tham nhũng, lãng phí, tiêu cực nghiêm trọng phức tạp, dư luận xã hội quan tâm. Nhất là các vụ án, vụ việc gây ảnh hưởng lớn đến sự phát triển lành mạnh của nền kinh tế, sức khỏe của người dân, dư luận bức xúc; các vụ án, vụ việc có sự cấu kết, móc nối giữa cán bộ thoái hóa, biến chất với doanh nghiệp, tổ chức để trục lợi, thậm chí cả với bị can, đối tượng tội phạm núp bóng doanh nghiệp và các vụ, việc liên quan đến nhân sự đại hội đảng các cấp.
Từ đầu năm đến nay, cấp uỷ, uỷ ban kiểm tra các cấp đã thi hành kỷ luật hơn 330 tổ chức đảng và 9.600 đảng viên. Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã kỷ luật 23 cán bộ diện Trung ương quản lý; trong đó có 6 trường hợp bị xử lý hình sự. Qua thanh tra, kiểm toán đã kiến nghị thu hồi, xử lý tài chính 75.132 tỷ đồng và 633 ha đất; kiến nghị xử lý hành chính 928 tập thể và 3.058 cá nhân. Các cơ quan tiến hành tố tụng cả nước đã khởi tố mới 3.325 vụ/8.516 bị can về các tội tham nhũng, kinh tế, chức vụ, trong đó có 585 vụ án/1.585 bị can về các tội tham nhũng. Riêng các vụ án, vụ việc thuộc diện Ban Chỉ đạo theo dõi, chỉ đạo, đã khởi tố mới 6 vụ án/104 bị can từ 4 vụ việc; khởi tố bổ sung 172 bị can trong 16 vụ án; kết luận điều tra 14 vụ án/323 bị can; truy tố 14 vụ án/251 bị can; xét xử sơ thẩm 10 vụ án/167 bị cáo; xét xử phúc thẩm 14 vụ án/253 bị cáo; trong đó, đã kết thúc điều tra, truy tố, hoàn thành xét xử sơ thẩm một số vụ án trọng điểm theo kế hoạch của Ban Chỉ đạo.
Công tác thu hồi tài sản tiếp tục có chuyển biến tích cực. Trong năm, các cơ quan tố tụng đã tạm giữ, kê biên, phong tỏa, thu giữ số tài sản trị giá trên 1.270 tỷ đồng và nhiều tài sản có giá trị khác. Riêng các vụ án Ban Chỉ đạo theo dõi, chỉ đạo, trong giai đoạn thi hành án dân sự đã thu hồi gần 22.500 tỷ đồng (đạt 55%), nâng tổng số tiền thu hồi được từ khi thành lập Ban Chỉ đạo đến nay là 119.830 tỷ đồng.
Công tác phòng, chống lãng phí được chỉ đạo đẩy mạnh, tập trung tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, đưa vào khai thác, sử dụng nhiều công trình, dự án chậm tiến độ, tồn đọng kéo dài, nguy cơ thất thoát, lãng phí theo đúng nguyên tắc “không để lãng phí kéo dài nhưng cũng không hợp thức hóa sai phạm”, góp phần khơi thông nguồn lực, phục vụ phát triển kinh tế - xã hội. Qua rà soát của Chính phủ, các bộ, ngành, địa phương đã rà soát, phân loại, có phương án xử lý đối với gần 3.000 công trình, dự án chậm tiến độ, tồn đọng kéo dài, nguy cơ gây thất thoát, lãng phí. Đến nay, đã hoàn thành rà soát, xử lý đối với hơn 1.150 dự án và 10.971 cơ sở nhà, đất dôi dư sau sắp xếp đơn vị hành chính các cấp. Nhất là, đã hoàn thành xử lý, đưa vào khai thác, sử dụng đối với dự án xây dựng cơ sở 2 Bệnh viện Bạch Mai và cơ sở 2 Bệnh viện Hữu Nghị Việt Đức. Thanh tra Chính phủ đã quyết liệt triển khai, hoàn thành thanh tra đối với hơn 70 dự án, chỉ đạo hoàn thành thanh tra đối với 421 dự án chậm tiến độ, tồn đọng, kéo dài theo chỉ đạo của Ban Chỉ đạo. Các cơ quan tiến hành tố tụng cả nước đã khởi tố, điều tra 62 vụ án/373 bị can về các hành vi lãng phí để cảnh tỉnh, răn đe, phòng ngừa sai phạm.
Tập trung chỉ đạo triển khai đồng bộ, có hiệu quả công tác phòng ngừa tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, gắn với xây dựng, vận hành chính quyền địa phương 2 cấp và ứng dụng khoa học công nghệ, chuyển đổi số. Bộ Chính trị đã ban hành Chỉ thị số 42-CT/TW, ngày 16/01/2025 về giáo dục cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư và Chỉ thị số 53-CT/TW, ngày 26/10/2025 về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với việc thực hiện trách nhiệm giải trình của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động công vụ tạo chuyển biến tích cực trong nhận thức và hành động của cán bộ, đảng viên và nhân dân, góp phần phòng ngừa tham nhũng, lãng phí, tiêu cực từ gốc. Các cấp ủy, tổ chức đảng đã lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện các biện pháp phòng ngừa tham nhũng, lãng phí, tiêu cực trong sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị và công tác nhân sự đại hội đảng các cấp; thực hiện nghiêm chủ trương bố trí Bí thư cấp ủy, người đứng đầu chính quyền và một số chức danh không phải người địa phương. Chính phủ, các bộ, ngành, địa phương đã chú trọng triển khai việc ứng dụng khoa học, công nghệ, chuyển đổi số trong PCTNLPTC và phục vụ hoạt động của chính quyền các cấp.
Công tác PCTNLPTC ở địa phương, cơ sở tiếp tục có nhiều chuyển biến tích cực. Các Ban Chỉ đạo PCTNLPTC cấp tỉnh chủ động kiện toàn tổ chức bộ máy sau hợp nhất, sáp nhập; chỉ đạo triển khai khá toàn diện các nhiệm vụ, cả phòng ngừa và phát hiện, xử lý tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. Trong năm 2025, các Ban Chỉ đạo cấp tỉnh đã đưa gần 100 vụ án, vụ việc tham nhũng, lãng phí, tiêu cực vào theo dõi, chỉ đạo; chỉ đạo tăng cường kiểm tra, giám sát, thanh tra PCTNLPTC ở cấp cơ sở, chi bộ; xử lý nghiêm trách nhiệm người đứng đầu để xảy ra tham nhũng, lãng phí, tiêu cực (đã xử lý 98 người đứng đầu, cấp phó người đứng đầu do tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, trong đó có 46 trường hợp bị xử lý hình sự).
Các cơ quan chức năng PCTNLPTC đã khẩn trương, quyết liệt trong thực hiện cơ chế phối hợp, phát hiện, xử lý tham nhũng, tiêu cực qua công tác kiểm tra, giám sát, thanh tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án và tháo gỡ khó khăn, vướng mắc về giám định, định giá tài sản, cung cấp tài liệu và thu hồi tài sản; đồng thời đã chủ động phát hiện, xử lý nghiêm các cán bộ, đảng viên vi phạm do tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. Trong năm 2025, đã có hơn 250 trường hợp cán bộ, đảng viên các cơ quan chức năng PCTNLPTC bị xử lý kỷ luật do tham nhũng, tiêu cực, trong đó có hơn 60 trường hợp bị xử lý hình sự;...
Ban Chỉ đạo đã tổ chức Hội nghị toàn quốc tổng kết công tác PCTNLPTC nhiệm kỳ XIII quy mô lớn nhất từ trước đến nay với hơn 190 nghìn cán bộ, đảng viên tham dự, tạo thành đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng trong toàn hệ thống chính trị. Các cấp ủy, tổ chức đảng đã tiến hành tổng kết, đánh giá toàn diện công tác PCTNLPTC đến tận cấp cơ sở, chi bộ. Phát biểu kết luận Hội nghị, đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm, Trưởng Ban Chỉ đạo đã đánh giá toàn diện, sâu sắc những kết quả đạt được, khẳng định những thành tựu có tính đột phá, tạo nên dấu ấn nổi bật trong công tác PCTNLPTC nhiệm kỳ XIII. Đồng thời đã xác định rõ 03 yêu cầu, 05 nhiệm vụ trọng tâm, 03 đột phá với phương châm “Kiên trì - Quyết tâm - Đồng thuận - Toàn diện - Đột phá” đối với công tác PCTNLPTC trong thời gian tới.
4. Một số nhiệm vụ phát triển kinh tế tư nhân trong thời gian tới
Sau gần 8 tháng triển khai Nghị quyết 68-NQ/TW, nhận thức về vị trí, vai trò của kinh tế tư nhân, đặc biệt là vai trò một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc dân, đã thẩm thấu trong xã hội, doanh nghiệp, các cơ quan quản lý nhà nước. Toàn bộ 34/34 địa phương và 21 bộ, cơ quan đã ban hành Kế hoạch hành động thực hiện Nghị quyết. Phản hồi ý kiến doanh nghiệp nhiều hơn, niềm tin được củng cố và tăng cường. Khu vực kinh tế tư nhân đã đóng góp quan trọng vào tăng trưởng GDP dự kiến trên 8% và kỷ lục xuất nhập khẩu khoảng 920 tỷ USD năm 2025, Việt Nam được xếp vào nhóm 15 nước có quy mô thương mại quốc tế lớn nhất thế giới; góp phần triển khai Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
Công tác thể chế hoá, tổ chức thực hiện được chú trọng. Nghị quyết số 138/NQ-CP, 139/NQ-CP của Chính phủ giao các bộ, ngành, địa phương 69 nhiệm vụ, riêng năm 2025 cần hoàn thành 43 nhiệm vụ; đến nay cơ bản đã hoàn thành 37/43 nhiệm vụ (đạt trên 80%). Chính phủ đã trình Quốc hội ban hành 15 luật, 1 nghị quyết của Quốc hội và ban hành 15 nghị định quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành; ban hành Nghị quyết 66 với mục tiêu cắt giảm ít nhất 30% thời gian giải quyết thủ tục, 30% chi phí tuân thủ và 30% điều kiện kinh doanh trong năm 2025 và tiếp tục cắt giảm thời gian tới. Đã phê duyệt phương án cắt giảm hơn 3.000 thủ tục hành chính và hơn 2.200 điều kiện kinh doanh, góp phần giảm khoảng 13.200 ngày thực hiện thủ tục và chi phí cắt giảm tuân thủ thủ tục hành chính đạt hơn 34,2 nghìn tỷ đồng/năm. Các chính sách ưu đãi, hỗ trợ thuế, phí, tiếp cận vốn, đất đai, thủ tục đầu tư, môi trường kinh doanh... được các bộ, ngành, địa phương tập trung rà soát, hoàn thiện; đồng thời đẩy mạnh tuyên truyền, hỗ trợ các doanh nghiệp tư nhân, hộ kinh doanh.
Việc ban hành, triển khai Nghị quyết 68-NQ/TW tác động, ảnh hưởng đến sự phát triển của cộng đồng doanh nghiệp ngày càng rõ nét. Tính chung cả năm 2025, có hơn 300.000 doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động, tăng trên 30% và tổng số vốn đăng ký đạt trên 6 triệu tỷ đồng, tăng trên 71% so với năm 2024; qua đó nâng tổng số doanh nghiệp đang hoạt động lên gần 1,1 triệu doanh nghiệp. Số hộ kinh doanh chuyển đổi lên doanh nghiệp trong 11 tháng đạt khoảng 3.200 doanh nghiệp. Sau 3 lễ khởi công, khánh thành các công trình, dự án lớn, trọng điểm quốc gia đồng loạt trên cả nước trong năm 2025, đã có 564 công trình, dự án với tổng mức đầu tư trên 5,14 triệu tỷ đồng (tương đương khoảng 40% GDP), trong đó nguồn vốn tư nhân khoảng 3,8 triệu tỷ đồng, chiếm 74,6%. Vai trò của các hiệp hội doanh nghiệp, tổ chức đại diện cộng đồng doanh nghiệp được đề cao hơn, tham gia ngày càng thực chất vào quá trình xây dựng, phản biện chính sách.
Bên cạnh kết quả đạt được, việc triển khai Nghị quyết số 68 còn một số hạn chế, bất cập, khó khăn, thách thức. Để khắc phục tồn tại, hạn chế, tại Phiên họp lần thứ ba của Ban Chỉ đạo quốc gia triển khai Nghị quyết số 68-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân, ngày 20/12/2025, Thủ tướng yêu cầu:
Tập trung hoàn thành các nhiệm vụ còn lại từ nay đến cuối tháng 12/2025, trong đó có các văn bản cần sớm hoàn thiện, như: Nghị định về quỹ phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa; Cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai và quyết định hướng dẫn dự án xanh, tuần hoàn; Nghị định hướng dẫn hỗ trợ lãi suất 2% đối với dự án xanh, tuần hoàn; Chương trình hỗ trợ pháp lý liên ngành cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, hộ kinh doanh; Sửa đổi, bổ sung Nghị định 32 năm 2024 về cụm công nghiệp; Nghị quyết về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia năm 2026.
Trong quý I năm 2026, các bộ, ngành liên quan được giao nhiệm vụ khẩn trương ban hành hoặc trình ban hành trong quý I năm 2026 các văn bản hướng dẫn chi tiết các chính sách hỗ trợ kinh tế tư nhân về đất đai, mặt bằng sản xuất, hỗ trợ lãi suất, hỗ trợ công nghệ, chuyển đổi số, hỗ trợ đào tạo giám đốc điều hành, hỗ trợ pháp lý, phát triển các doanh nghiệp tiên phong, hỗ trợ các doanh nghiệp vươn ra thị trường quốc tế. Các địa phương thường xuyên trao đổi, nắm chắc tình hình của doanh nghiệp tại địa bàn; vận hành ổn định chính quyền địa phương hai cấp, đảm bảo việc hỗ trợ, đồng hành cùng doanh nghiệp.
Rà soát, khẩn trương đề xuất Chính phủ trong quý I năm 2026 các nội dung cụ thể sửa đổi Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa để thể chế hóa đầy đủ tinh thần của Nghị quyết số 68-NQ/TW về hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa; nghiên cứu xây dựng Luật Kinh doanh cá thể; hoàn thiện khung pháp lý về trái phiếu doanh nghiệp tại thị trường trong nước và chào bán trái phiếu doanh nghiệp ra thị trường quốc tế để nâng cao chất lượng và mở rộng kênh huy động vốn ổn định cho kinh tế tư nhân; hoàn thiện chế độ kế toán, bảo hiểm cho doanh nghiệp siêu nhỏ; xây dựng chương trình hỗ trợ sản xuất kinh doanh bền vững cho đối tượng doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh.
Khẩn trương tổ chức tổng kết, đánh giá đề án phát triển thị trường trong nước gắn với cuộc vận động Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam giai đoạn 2021-2025; tập trung xây dựng, hoàn thiện trình Thủ tướng Chính phủ trong quý I năm 2026 các đề án phát triển thị trường trong nước, chương trình xúc tiến thương mại quốc gia trong thời gian tới; tổ chức Hội chợ mùa Xuân năm 2026. Rà soát pháp luật về dân sự, tố tụng và các văn bản liên quan hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, hộ kinh doanh; thể chế hóa đầy đủ chủ trương của Đảng về phát triển kinh tế tư nhân, đặc biệt là Nghị quyết 68-NQ/TW. Tiếp tục rà soát Luật Đất đai và văn bản hướng dẫn thi hành theo hướng kiểm soát biến động giá đất, dành quỹ đất cho phát triển khu công nghiệp, cụm công nghiệp, vườn ươm...; khẩn trương hoàn thiện cơ chế hỗ trợ tiền thuê đất cho một số nhóm doanh nghiệp.
Rà soát, trình sửa đổi Luật Thi đua - Khen thưởng để quy định về thi đua, khen thưởng theo hướng đơn giản hóa thủ tục, mở rộng hình thức tôn vinh doanh nghiệp, doanh nhân tiêu biểu và chú trọng khen thưởng tôn vinh người lao động trực tiếp; nghiên cứu đề xuất cơ chế tăng cường sự tham gia của đội ngũ doanh nhân xuất sắc, có tâm, có tầm tham gia quản trị đất nước. Hoàn thiện pháp luật và hạ tầng thực thi về sở hữu trí tuệ đảm bảo chế tài nghiêm, đủ sức răn đe đối với hành vi vi phạm; đẩy mạnh thực hiện trực tuyến thủ tục xác lập quyền sở hữu trí tuệ, rút ngắn thời gian xử lý. Khẩn trương xây dựng, trình Thủ tướng Chính phủ trong quý I năm 2026 Chiến lược tài chính toàn diện giai đoạn 2026-2030; chỉ đạo các ngân hàng thương mại triển khai chính sách hỗ trợ lãi suất 2%/năm thông qua các ngân hàng thương mại cho các doanh nghiệp vay vốn để thực hiện các dự án xanh, tuần hoàn và áp dụng khung tiêu chuẩn môi trường, xã hội, quản trị (ESG).
Năm 2026, tiếp tục hoàn thiện thể chế, pháp luật để thúc đẩy mạnh mẽ kinh tế tư nhân theo tinh thần cải cách mạnh mẽ, thực chất của Nghị quyết 68-NQ/TW. Đẩy mạnh cải cách, cắt giảm thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh; tập trung chuyển đổi số để doanh nghiệp không phải đi lại nhiều lần, không phải chờ đợi, không phải xin cho; đẩy mạnh phân cấp, phân quyền đi đôi với phân bổ nguồn lực, nâng cao năng lực thực thi và tăng cường kiểm tra, giám sát; đẩy mạnh hậu kiểm, giảm tiền kiểm. Tạo mọi điều kiện thuận lợi phát triển đội ngũ doanh nghiệp tư nhân về số lượng và chất lượng, phát triển các doanh nghiệp lớn, dẫn dắt, đồng thời hỗ trợ hiệu quả doanh nghiệp nhỏ, siêu nhỏ, hộ kinh doanh; các doanh nghiệp hỗ trợ lẫn nhau, không để doanh nghiệp nhỏ và vừa bị bỏ lại phía sau; đồng thời tạo điều kiện thuận lợi để hộ kinh doanh đủ điều kiện chuyển đổi thành doanh nghiệp. Tăng cường đối thoại, lắng nghe, phản hồi kịp thời kiến nghị của doanh nghiệp. Đối thoại phải thực chất, không hình thức; phản hồi phải rõ ràng, đúng thời hạn, đúng thẩm quyền. Xây dựng cơ chế huy động nguồn lực, gồm nguồn lực bên trong và bên ngoài, nguồn lực nhà nước và tư nhân, kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại. Từng bộ, cơ quan, địa phương chủ động giải quyết các vấn đề theo chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình, phối hợp chặt chẽ với các cơ quan liên quan, thường xuyên đánh giá công tác triển khai Nghị quyết số 68-NQ/TW.
5. Chính sách thuế thu nhập cá nhân đối với nhà quản lý, chuyên gia, nhà khoa học, người có trình độ chuyên môn cao có liên quan đến hoạt động của Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam
Chính phủ ban hành Nghị định số 324/2025/NĐ-CP về chính sách tài chính trong Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam. Nghị định này gồm 9 chương, 76 điều quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị quyết số 222/2025/QH15 ngày 27/6/2025 về thành viên Trung tâm tài chính quốc tế; chính sách thuế, quản lý thuế và kế toán; chế độ tài chính trong lĩnh vực ngân hàng; cấp phép thành lập, hoạt động của tổ chức kinh doanh chứng khoán; chính sách bảo hiểm, tái bảo hiểm; chính sách về phát triển thị trường vốn và thử nghiệm có kiểm soát cho dịch vụ tài chính ứng dụng công nghệ và đổi mới sáng tạo; chính sách đối với nhà đầu tư chiến lược và chính sách phát triển hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội; thanh tra, kiểm tra, giám sát trong Trung tâm tài chính quốc tế. Đối tượng áp dụng là các thành viên của Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam; các nhà đầu tư; các cơ quan, tổ chức thuộc Trung tâm tài chính quốc tế; các cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan đến hoạt động của Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam được quy định tại Nghị quyết số 222/2025/QH15.
Về thuế thu nhập cá nhân, Nghị định quy định nhà quản lý, chuyên gia, nhà khoa học, người có trình độ chuyên môn cao làm việc tại Trung tâm tài chính quốc tế, bao gồm người Việt Nam và người nước ngoài được miễn thuế thu nhập cá nhân đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công có được từ thực hiện công việc tại Trung tâm tài chính quốc tế đến hết năm 2030. Thời gian miễn thuế tính liên tục kể từ tháng phát sinh thu nhập được miễn thuế. Trường hợp phát sinh thu nhập trong tháng thì thời gian tính miễn thuế được tính đủ tháng. Trường hợp cá nhân vừa có thu nhập từ tiền lương, tiền công được miễn thuế theo quy định tại điểm này vừa có thu nhập từ tiền lương, tiền công khác thì số thuế thu nhập cá nhân được miễn theo quy định tại điểm này được xác định như sau: Cá nhân có thu nhập từ chuyển nhượng cổ phần, phần vốn góp, quyền góp vốn vào thành viên được miễn thuế thu nhập cá nhân đối với khoản thu nhập này đến hết năm 2030.
Thu nhập từ chuyển nhượng cổ phần, phần vốn góp, quyền góp vốn quy định tại điểm này là thu nhập có được từ chuyển nhượng một phần hoặc toàn bộ cổ phần, phần vốn góp, quyền góp vốn vào thành viên (bao gồm cả trường hợp bán doanh nghiệp), trừ thu nhập từ chuyển nhượng cổ phiếu, quyền mua cổ phiếu của công ty đại chúng, tổ chức niêm yết đăng ký giao dịch theo quy định của pháp luật về chứng khoán. Trường hợp bán toàn bộ doanh nghiệp do cá nhân làm chủ sở hữu dưới hình thức chuyển nhượng vốn có gắn với bất động sản thì kê khai và nộp thuế thu nhập cá nhân theo hoạt động chuyển nhượng bất động sản.
Nhà quản lý, chuyên gia, nhà khoa học, người có trình độ chuyên môn cao phải đáp ứng tối thiểu các tiêu chí, điều kiện sau đây: Có trình độ đại học trở lên hoặc chứng chỉ nghề nghiệp uy tín được công nhận bởi các tổ chức chuyên môn quốc tế; ít nhất 5 năm kinh nghiệm làm việc, nghiên cứu hoặc giảng dạy trong lĩnh vực chuyên môn phù hợp với yêu cầu của Trung tâm tài chính quốc tế; hoặc đã và đang đảm nhiệm các chức danh quản lý từ cấp phòng trở lên tại các Trung tâm tài chính quốc tế trên thế giới hoặc tại các tổ chức tài chính, quỹ đầu tư hoặc tập đoàn đa quốc gia có danh tiếng.
Cơ quan điều hành xác định tiêu chí, điều kiện cụ thể đối với từng lĩnh vực chuyên môn phù hợp với yêu cầu của Trung tâm tài chính quốc tế. Chủ tịch cơ quan điều hành có thẩm quyền xác định và tuyển chọn nhà quản lý, chuyên gia, nhà khoa học, người có trình độ chuyên môn cao theo đề xuất của các cơ quan, đơn vị thuộc Trung tâm tài chính quốc tế và các Thành viên. Trường hợp doanh nghiệp, cá nhân có phát sinh thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp khác, thuế thu nhập cá nhân khác ngoài quy định của Nghị định này thì thực hiện theo quy định của pháp luật hiện hành về thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân và quản lý thuế.
Doanh nghiệp, cá nhân tại Trung tâm tài chính quốc tế thực hiện đăng ký, kê khai, nộp thuế, quyết toán các loại thuế, được áp dụng chế độ ưu tiên về thủ tục hành chính trong quản lý thuế theo quy định của pháp luật về quản lý thuế. Việc xác định thời điểm bắt đầu hưởng ưu đãi, thời gian miễn, giảm thuế thực hiện theo quy định pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp và pháp luật về thuế thu nhập cá nhân. Danh mục ngành, nghề ưu tiên phát triển tại Trung tâm tài chính quốc tế áp dụng ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp được quy định tại Nghị định của Chính phủ về thành lập Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam.
6. Một số kết quả và nhiệm vụ phát triển kinh tế hợp tác xã thời gian tới
Trong thời gian qua, kinh tế tập thể, hợp tác xã và doanh nghiệp đã có bước phát triển lớn mạnh cả về số lượng và chất lượng: Đến nay, cả nước có hơn 35 nghìn hợp tác xã với gần 6 triệu thành viên tham gia; có 164 liên hiệp hợp tác xã với hơn 1 nghìn hợp tác xã thành viên; gần 66 nghìn tổ hợp tác với hơn 1 triệu thành viên; đồng thời có khoảng 1 triệu doanh nghiệp đang hoạt động (tăng 20% so với năm 2020); đã có khoảng 4,7 nghìn hợp tác xã tham gia liên kết chuỗi giá trị và 2,6 nghìn hợp tác xã ứng dụng công nghệ cao. Trên cả nước đã có gần 3 nghìn dự án, kế hoạch liên kết giữa hợp tác xã và doanh nghiệp trong nhiều ngành, lĩnh vực được phê duyệt, triển khai, đa dạng về hình thức liên kết. Hoạt động liên kết giữa doanh nghiệp và hợp tác xã đã góp phần khơi thông những tiềm năng, phát triển thị trường ổn định, bền vững cho các sản phẩm chủ lực quốc gia, đặc biệt trong lĩnh vực nông nghiệp đã xuất hiện nhiều mô hình liên kết hiệu quả cao. Các dự án liên kết giữa hợp tác xã và doanh nghiệp bước đầu đã thu hút và sử dụng hiệu quả các nguồn lực của xã hội. Giai đoạn 2018 - 2025 cả nước đã huy động được nguồn vốn trên 15,2 nghìn tỷ đồng thực hiện các dự án, kế hoạch liên kết, trong đó ngân sách nhà nước gần 3,2 nghìn tỷ đồng (khoảng 21%), vốn đối ứng của các doanh nghiệp, hợp tác xã và người dân khoảng 79%. Bên cạnh đó, việc phát triển kinh tế tập thể, hợp tác vẫn còn tồn tại một số hạn chế, khó khăn, vướng mắc.
Phát triển kinh tế tập thể, hợp tác xã theo mô hình xanh, số, tuần hoàn và thúc đẩy liên kết với các thành phần kinh tế, trong đó có doanh nghiệp vừa là yêu cầu thực tiễn khách quan, vừa là giải pháp mang tính chiến lược để phát triển kinh tế - xã hội với phương châm: Nhà nước kiến tạo - Doanh nghiệp tiên phong - Hợp tác xã là hạt nhân - Nông dân, người lao động là chủ thể - Nhà khoa học tư vấn, đồng hành - Tổ chức tín dụng hỗ trợ - Xây dựng liên kết bền vững, hiệu quả. Tăng quy mô hỗ trợ từ ngân sách nhà nước để phát triển kinh tế tập thể, hợp tác xã
Để thực hiện được mục tiêu trên, tại Diễn đàn Kinh tế hợp tác, hợp tác xã năm 2025, các giải pháp được đưa ra là: Các bộ, cơ quan liên quan rà soát, sửa đổi, bổ sung ngay các quy định hiện hành không còn phù hợp nhằm đáp ứng yêu cầu thực tiễn về phát triển kinh tế tập thể, hợp tác xã trong bối cảnh mới; rà soát, sửa đổi, bổ sung các quy định để thúc đẩy phát triển nhanh, mạnh mẽ khu vực kinh tế tư nhân, trong đó cụ thể hóa các quy định về hỗ trợ doanh nghiệp tham gia cụm liên kết ngành, chuỗi giá trị; xây dựng khung chính sách phát triển chuỗi liên kết, chuỗi giá trị.
Hoàn thiện dự thảo Nghị định thay thế Nghị định số 57/2018/NĐ-CP ngày 17/4/2018 về cơ chế, chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn với những chính sách mang tính đột phá, nguồn lực đủ mạnh, đáp ứng yêu cầu của thực tiễn; rà soát Nghị định số 113/2024/NĐ-CP ngày 12/9/2024 quy định chi tiết một số điều của Luật Hợp tác xã để kịp thời sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện chính sách, thúc đẩy phát triển hiệu quả các hợp tác xã. Tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện chính sách hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận vốn vay ưu đãi từ Quỹ phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, trong đó ưu tiên các doanh nghiệp tham gia cụm liên kết ngành, chuỗi giá trị. Khẩn trương hoàn thiện, trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, ban hành các chương trình, đề án, kế hoạch liên quan đến phát triển kinh tế tập thể trong giai đoạn 2026-2030.
Nghiên cứu đề xuất cơ chế, nguồn lực tương xứng, trong đó tăng quy mô hỗ trợ từ ngân sách nhà nước để triển khai đồng bộ, hiệu quả các nhiệm vụ, giải pháp phát triển kinh tế tập thể, hợp tác xã trong thời gian tới. Xây dựng, triển khai ngay chương trình hỗ trợ chuyển đổi số cho các hợp tác xã trong năm 2026 nhằm nâng cao năng lực, sức cạnh tranh, đáp ứng yêu cầu liên kết với các doanh nghiệp và tiếp tục tổ chức hiệu quả Diễn đàn kinh tế hợp tác, hợp tác xã, trở thành kênh đối thoại chính sách thường xuyên, kết nối hợp tác xã với doanh nghiệp, nhà khoa học, tổ chức tài chính, các đối tác trong nước và quốc tế.
Khẩn trương trình Chính phủ về Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 98/2018/NĐ-CP ngày 05/7/2018 về chính sách khuyến khích phát triển hợp tác, liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp, trong đó cần tập trung: đổi mới, đơn giản hóa và quy định rõ các tiêu chí, trình tự, thủ tục, thẩm quyền phê duyệt; tăng cường phân cấp phân quyền cho địa phương trong quy trình xác nhận, phê duyệt dự án, kế hoạch liên kết; quy định rõ cơ chế phân phối lợi ích hài hòa, hợp lý và cơ chế bảo vệ quyền lợi của các tác nhân trong chuỗi giá trị; bổ sung các quy định hỗ trợ hình thành và vận hành chuỗi giá trị xanh, chuỗi giá trị số, gắn với truy xuất nguồn gốc và giảm phát thải, tín chỉ các-bon, quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn quốc tế; cập nhật, bổ sung danh mục các nội dung ưu tiên để hỗ trợ phù hợp với nhu cầu và điều kiện thực tiễn của từng vùng.
Xây dựng chương trình tổng thể về đào tạo nông dân số, nông dân chuyên nghiệp, đội ngũ quản trị hợp tác xã hiện đại, góp phần hình thành lực lượng lao động nông nghiệp có tri thức, kỹ năng tham gia chuỗi giá trị toàn cầu; xây dựng cơ chế đào tạo nghề, phát triển đội ngũ xã viên, nông dân có chất lượng, năng lực chuyên môn cao về xây dựng và vận hành chuỗi liên kết về nông sản. Nghiên cứu xây dựng cơ chế tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp, hợp tác xã chủ trì các dự án liên kết chuỗi được tiếp cận các gói tín dụng thương mại, tín dụng xanh, tín dụng ưu đãi. Xây dựng chương trình hỗ trợ các hợp tác xã trong công tác chuyển giao công nghệ. Xây dựng đội ngũ cán bộ của Liên minh Hợp tác xã Việt Nam đủ năng lực đáp ứng yêu cầu thực hiện các nhiệm vụ tư vấn, hỗ trợ phát triển hợp tác xã. Phát huy vai trò cầu nối thúc đẩy doanh nghiệp liên kết hiệu quả với hợp tác xã, hình thành chuỗi giá trị bền vững.
7. Kế hoạch thực hiện quy hoạch phát triển, ứng dụng năng lượng nguyên tử thời kỳ đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050
Với mục đích triển khai thực hiện Quyết định số 245/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch phát triển, ứng dụng năng lượng nguyên tử thời kỳ đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050 bảo đảm hiệu lực, hiệu quả; cụ thể hóa các mục tiêu, định hướng phát triển, ứng dụng bức xạ và đồng vị phóng xạ trong các ngành, lĩnh vực, giải pháp và nguồn lực thực hiện gắn với phân công trách nhiệm của các bộ, ngành, địa phương trong việc triển khai thực hiện Quy hoạch; xây dựng lộ trình, xác định nội dung trọng tâm, tiến độ và nguồn lực thực hiện các chương trình, dự án, đề án quan trọng, ưu tiên đầu tư.
Kế hoạch thực hiện quy hoạch phát triển, ứng dụng năng lượng nguyên tử thời kỳ đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050 được phê duyệt bởi Quyết định số 2736/QĐ-TTg ngày 17/12/2025 đưa ra các nội dung chính cần triển khai thực hiện các mục tiêu cụ thể đến năm 2030 như: Phát triển, ứng dụng bức xạ và đồng vị trong ngành y tế; phát triển, ứng dụng bức xạ và đồng vị trong ngành tài nguyên và môi trường; phát triển, ứng dụng bức xạ và đồng vị trong ngành nông nghiệp; phát triển, ứng dụng bức xạ và đồng vị trong ngành công nghiệp; phát triển tiềm lực khoa học và công nghệ hạt nhân, đào tạo nguồn nhân lực, bảo đảm an toàn, an ninh hạt nhân.
Về phát triển, ứng dụng bức xạ và đồng vị trong ngành y tế: Hoàn thành việc nâng cấp và phát triển mạng lưới các cơ sở xạ trị, y học hạt nhân, điện quang đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh của người dân, nâng cao hiệu quả, bảo đảm chất lượng và an toàn bức xạ trong chẩn đoán và điều trị. Các nhiệm vụ thực hiện mục tiêu cụ thể phát triển, ứng dụng bức xạ và đồng vị trong ngành y tế đến năm 2030: Đầu tư, nâng cấp hoặc xây dựng mới các khoa ung bướu có thiết bị xạ trị, khoa y học hạt nhân tại các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (ưu tiên đầu tư tại các vùng mà hiện nay việc đầu tư còn hạn chế); đầu tư mua sắm, tăng cường trang thiết bị xạ trị, xạ hình, điện quang cho các cơ sở y học bức xạ tại các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; các thiết bị tiên tiến, hiện đại cho các cơ sở xạ trị và y học hạt nhân của các bệnh viện Trung ương. Khuyến khích các bệnh viện tư nhân đầu tư các thiết bị tiên tiến, hiện đại ứng dụng bức xạ và đồng vị bức xạ phục vụ chẩn đoán và điều trị bệnh phù hợp với yêu cầu; xây dựng hệ thống kiểm định liều lượng lâm sàng đối với các cơ sở xạ trị, y học hạt nhân và điện quang. Tham gia chương trình kiểm định chất lượng toàn diện về xạ trị, y học hạt nhân và điện quang của Cơ quan Năng lượng nguyên tử quốc tế...
Về phát triển tiềm lực khoa học và công nghệ hạt nhân, đào tạo nguồn nhân lực, bảo đảm an toàn, an ninh hạt nhân: Nâng cao tiềm lực khoa học và công nghệ hạt nhân, hoàn thiện hệ thống pháp luật, nâng cao năng lực quản lý nhà nước về phát triển, ứng dụng năng lượng nguyên tử, bảo đảm an toàn, an ninh hạt nhân, phát triển nguồn nhân lực. Các nhiệm vụ thực hiện mục tiêu phát triển tiềm lực khoa học và công nghệ hạt nhân, đào tạo nguồn nhân lực, bảo đảm an toàn, an ninh hạt nhân đến năm 2030: Nâng cấp và xây dựng mới một số phòng thí nghiệm hiện đại về nghiên cứu, ứng dụng khoa học và kỹ thuật hạt nhân, công nghệ bức xạ; tăng cường năng lực cơ quan an toàn bức xạ và hạt nhân quốc gia; tăng cường năng lực quản lý nhà nước về phát triển, ứng dụng năng lượng nguyên tử và bảo đảm an toàn, an ninh hạt nhân...
Các cơ sở nghiên cứu, ứng dụng, đào tạo trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử được nâng cấp cơ sở vật chất kỹ thuật, nâng cao chất lượng nhân lực, hiệu quả hoạt động. Các cơ quan chức năng liên quan sẽ nghiên cứu xây dựng đề án thành lập Viện/Trung tâm quốc gia về y học bức xạ; đầu tư trang thiết bị và nhân lực cho một số khoa ung bướu có thiết bị xạ trị (hoặc khoa xạ trị), y học hạt nhân đầu ngành bao gồm cả Trung tâm Y học hạt nhân và Ung bướu của Quân đội; phát triển nguồn nhân lực có chuyên môn, bổ sung trang thiết bị chuyên ngành năng lượng nguyên tử cho các đơn vị thực hiện công tác điều tra địa chất, khoáng sản, quan trắc khí tượng thủy văn, tài nguyên nước, môi trường phục vụ phát triển kinh tế - xã hội; xây dựng các nhóm nghiên cứu mạnh về ứng dụng bức xạ và đồng vị phóng xạ trong tạo, chọn giống cây trồng; kiểm soát côn trùng, sinh vật gây hại; chiếu xạ thực phẩm nhằm tăng cường ứng dụng năng lượng nguyên tử trong nông nghiệp...
Các cơ quan chức năng liên quan sẽ triển khai một số dự án quan trọng sau: Nâng cấp và hoàn thiện mạng lưới quan trắc và cảnh báo phóng xạ môi trường quốc gia; tăng cường năng lực nghiên cứu - triển khai và hỗ trợ kỹ thuật của Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam; xây dựng dự án đầu tư máy gia tốc Cyclotron và hệ thống phòng thí nghiệm tại Hà Nội để thực hiện nghiên cứu và phát triển thuốc phóng xạ; nâng cao năng lực y học bức xạ quốc gia và tổ chức thực hiện kiểm soát chiếu xạ y tế trong cả nước theo hướng dẫn của Cơ quan Năng lượng nguyên tử quốc tế và Tổ chức Y tế thế giới; thiết lập các trạm quan trắc về ứng dụng kỹ thuật nơtron tia vũ trụ hỗ trợ đo độ ẩm đất, lập bản đồ độ ẩm đất, giám sát cảnh báo hạn hán; các trạm quan trắc đồng vị bền trong nguồn nước tại hệ thống các sông lớn của Việt Nam.
8. Tăng cường công tác người cao tuổi thích ứng với già hóa dân số
Thời gian qua, công tác người cao tuổi đã được Ủy ban Quốc gia về người cao tuổi Việt Nam và các bộ, ngành, địa phương tích cực triển khai thực hiện, đạt nhiều kết quả quan trọng, khá toàn diện trên các lĩnh vực, góp phần nâng cao chất lượng đời sống vật chất và tinh thần, bảo vệ, chăm sóc và phát huy tiềm năng, vai trò của người cao tuổi trong công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc, phát triển đất nước. Bên cạnh các kết quả đã đạt được, công tác người cao tuổi còn bộc lộ một số tồn tại, hạn chế, chưa phù hợp với tình hình và yêu cầu thực tiễn.
Để tăng cường, nâng cao chất lượng công tác người cao tuổi, góp phần thích ứng với xu hướng già hóa dân số, thúc đẩy phát triển nhanh bền vững, thực hiện ý kiến chỉ đạo của Tổng Bí thư Tô Lâm tại Hội nghị toàn quốc quán triệt, triển khai thực hiện 04 nghị quyết của Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế, an ninh năng lượng quốc gia, đột phá phát triển giáo dục và đào tạo và bảo vệ, chăm sóc, nâng cao sức khỏe nhân dân ngày 16/9/2025, tại Chỉ thị số 35/CT-TTg ngày 23/12/2025, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu các bộ, ngành, địa phương căn cứ chức năng, nhiệm vụ được giao, tập trung triển khai thực hiện đồng bộ, hiệu quả các giải pháp thích ứng với già hóa dân số; coi công tác người cao tuổi là nhiệm vụ thường xuyên, lâu dài, gắn với mục tiêu phát triển bền vững; phối hợp chặt chẽ với Bộ Y tế trong quá trình thực hiện công tác người cao tuổi.
Xây dựng Luật sửa đổi, bổ sung Luật Người cao tuổi bảo đảm có tầm nhìn chiến lược, khả thi và đồng bộ, đảm bảo phát huy mạnh mẽ vai trò, tiềm năng, tri thức và kinh nghiệm của người cao tuổi trong các lĩnh vực đời sống xã hội, thích ứng với già hóa dân số. Trình Chính phủ ban hành Nghị định sửa đổi, bổ sung Nghị định số 103/2017/NĐ-CP ngày 12/9/2017 của Chính phủ quy định về việc thành lập, tổ chức, hoạt động, giải thể và quản lý các cơ sở trợ giúp xã hội, bảo đảm phù hợp với tình hình thực tiễn. Hướng dẫn các địa phương phát triển các mô hình chăm sóc ban ngày, nhà sinh hoạt cộng đồng theo hướng sáng đón đi, tối đưa về; hỗ trợ chăm sóc người cao tuổi tại gia đình, cộng đồng và các cơ sở chăm sóc người cao tuổi; đẩy mạnh phát triển các câu lạc bộ cho người cao tuổi và câu lạc bộ liên thế hệ tự giúp nhau. Tập trung cải cách thủ tục hành chính, liên thông chia sẻ dữ liệu, hướng dẫn người cao tuổi dễ dàng thực hiện các thủ tục hành chính trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước của Bộ Y tế.
Tiếp tục thực hiện các chính sách hỗ trợ nhà ở phòng, tránh bão, lũ đối với hộ nghèo, cận nghèo, trong đó đặc biệt ưu tiên hộ nghèo, cận nghèo có người cao tuổi. Hỗ trợ, tạo điều kiện để người cao tuổi tham gia đẩy mạnh chuyển đổi số, khởi nghiệp; thực hiện việc chủ trì đề tài, dự án nghiên cứu khoa học, đổi mới sáng tạo phù hợp. Xây dựng Công ước Quốc tế về người cao tuổi theo chủ trương của Chính phủ Việt Nam; phối hợp, hỗ trợ Trung ương Hội người cao tuổi Việt Nam tăng cường công tác đối ngoại Nhân dân; huy động các nguồn lực nước ngoài hỗ trợ cho công tác người cao tuổi.
Nghiên cứu, phối hợp xây dựng các mô hình phát triển nền kinh tế bạc thích ứng với già hóa dân số tại Việt Nam. Tổ chức tốt Ngày Hội người cao tuổi trồng cây đời đời nhớ ơn Bác Hồ hằng năm. Phát huy các thiết chế văn hóa hiện có nhằm chăm lo đời sống văn hóa, tinh thần; tổ chức các hoạt động thể dục, văn hóa, văn nghệ nhằm nâng cao sức khỏe thể chất, tinh thần cho người cao tuổi. Tăng cường thực hiện hiệu quả các chính sách đối với người cao tuổi ở các vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
Triển khai Chiến lược quốc gia về người cao tuổi. Quy hoạch mạng lưới cơ sở trợ giúp xã hội. Xem xét, hoàn thiện cơ chế, chính sách, khuyến khích xã hội hóa, thu hút đầu tư phát triển mạng lưới các cơ sở chăm sóc người cao tuổi ngoài công lập, kết hợp chăm sóc - y tế - phục hồi chức năng trên địa bàn theo quy định. Rà soát, sắp xếp lại các trụ sở, cơ sở vật chất dôi dư để ưu tiên, phát triển các trung tâm chăm sóc ban ngày, nhà sinh hoạt cộng đồng và các câu lạc bộ cho người cao tuổi tại xã, phường, đặc khu; thực hiện đồng bộ các giải pháp chăm sóc người cao tuổi tại nhà và cộng đồng, tăng khả năng tiếp cận dịch vụ chăm sóc xã hội. Tổ chức các diễn đàn kinh tế bạc để thúc đẩy việc xây dựng các mô hình phát triển kinh tế bạc phù hợp ở Việt Nam…
9. Đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao người dân tộc thiểu số trong một số ngành, lĩnh vực trọng điểm
Với mục tiêu nhằm mở rộng công bằng trong tiếp cận giáo dục chất lượng cao, tạo điều kiện để người dân tộc thiểu số được học tập trong các ngành, lĩnh vực trọng điểm có nhu cầu nhân lực cao. Trên cơ sở đó, hình thành lực lượng lao động, cán bộ nòng cốt có đủ trình độ, phẩm chất và năng lực, đóng góp trực tiếp vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội của các địa phương vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.
Giai đoạn 2026-2035, phấn đấu tuyển mới hằng năm từ 2.000 đến 2.500 sinh viên trình độ cao đẳng, đại học; trong đó thu hút từ 1.000 đến 1.500 sinh viên có tiềm năng để đào tạo, hình thành lực lượng lao động, cán bộ nòng cốt phục vụ phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Tỉ lệ người học theo các nhóm ngành sức khỏe dự kiến đạt từ 7% đến 10%, nông - lâm nghiệp từ 5% đến 10%, du lịch từ 5% đến 10%, còn lại thuộc các ngành, lĩnh vực khác. Quy mô đào tạo trình độ thạc sĩ, tiến sĩ là người dân tộc thiểu số phấn đấu tăng tối thiểu 10% mỗi năm; quy mô tuyển sinh đào tạo dự bị đại học cũng phấn đấu tăng ít nhất 10% hằng năm.
Năm 2045, tiếp tục mở rộng quy mô và phạm vi đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao là người dân tộc thiểu số trong một số ngành, lĩnh vực trọng điểm, có thế mạnh, đáp ứng mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.
Trong giai đoạn 2026-2030, tập trung đào tạo các ngành, lĩnh vực: sức khỏe, công nghệ thông tin, nông nghiệp, tài chính - ngân hàng, đào tạo giáo viên, du lịch và công tác xã hội; giai đoạn 2030-2035 sẽ mở rộng thêm các ngành, lĩnh vực đào tạo phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
Đề án “Đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao người dân tộc thiểu số trong một số ngành, lĩnh vực trọng điểm giai đoạn 2026-2035, định hướng đến năm 2045” được phê duyệt bởi Quyết định số 2776/QĐ-TTg ngày 24/12/2025 đề ra nhiều nhóm giải pháp trọng tâm, xuyên suốt từ tạo nguồn, tổ chức đào tạo đến bảo đảm đầu ra và hoàn thiện cơ chế, chính sách:
Tập trung nâng cao năng lực và chất lượng hệ thống cơ sở đào tạo, đặc biệt là các trường phổ thông dân tộc nội trú, bán trú và cơ sở dự bị đại học; đồng thời đầu tư có trọng tâm cho một số cơ sở giáo dục đại học chủ chốt nhằm bảo đảm điều kiện về cơ sở vật chất, chương trình đào tạo và đội ngũ giảng viên, đáp ứng yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho người dân tộc thiểu số. Chương trình, giáo trình và tài liệu giảng dạy sẽ được rà soát, điều chỉnh hoặc xây dựng mới theo hướng hiện đại, phù hợp với trình độ người học và điều kiện kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số, miền núi, biên giới, hải đảo.
Đẩy mạnh chuyển đổi số và ứng dụng khoa học, công nghệ trong đào tạo thông qua việc xây dựng nền tảng quản lí đào tạo số thống nhất, ứng dụng trí tuệ nhân tạo và dữ liệu lớn trong tuyển sinh, quản lí người học, phân tích và dự báo nhu cầu nhân lực. Hệ thống học liệu số đa ngôn ngữ, bao gồm tiếng Việt và một số tiếng dân tộc phổ biến, sẽ được phát triển nhằm mở rộng khả năng tiếp cận tri thức, góp phần nâng cao hiệu quả và chất lượng đào tạo.
Chú trọng huy động, đa dạng hóa nguồn lực triển khai, trong đó ngân sách nhà nước giữ vai trò chủ đạo và được lồng ghép với các chương trình, đề án, chương trình mục tiêu quốc gia có liên quan; khuyến khích hợp tác công - tư, huy động sự tham gia của doanh nghiệp, cơ sở đào tạo tư thục và các nguồn lực xã hội hợp pháp nhằm hỗ trợ đào tạo, phát triển nguồn nhân lực người dân tộc thiểu số theo quy định của pháp luật.
Xây dựng hệ sinh thái đào tạo gắn với thị trường lao động, bảo đảm đầu ra bền vững cho người học. Các cơ sở đào tạo sẽ tăng cường kết nối với doanh nghiệp, trung tâm dịch vụ việc làm và chính quyền địa phương để tư vấn, giới thiệu việc làm ngay trong quá trình đào tạo; đồng thời xây dựng hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu về nghề nghiệp, thị trường lao động và xu hướng việc làm theo từng vùng, miền. Khuyến khích phát triển các mô hình khởi nghiệp, hỗ trợ vay vốn và bồi dưỡng kĩ năng quản trị, kinh doanh cho người học sau đào tạo, gắn đào tạo với phát triển kinh tế tư nhân và sinh kế bền vững tại địa phương.
Tập trung nghiên cứu, hoàn thiện các cơ chế, chính sách đặc thù cho người học là người dân tộc thiểu số, như miễn, giảm học phí, hỗ trợ chi phí học tập, sinh hoạt, chỗ ở, bồi dưỡng ngoại ngữ, tin học; xây dựng cơ chế phát hiện, bồi dưỡng tài năng; đổi mới tuyển sinh, đào tạo linh hoạt và chính sách thu hút giáo viên, cán bộ chất lượng cao công tác tại vùng sâu, vùng xa, biên giới. Công tác tư vấn hướng nghiệp, truyền thông và hợp tác quốc tế được nhấn mạnh nhằm định hướng nghề nghiệp phù hợp, lan tỏa chính sách, khơi dậy khát vọng học tập, đồng thời tạo điều kiện cho sinh viên dân tộc thiểu số xuất sắc học tập, trao đổi ở nước ngoài, góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực lâu dài.
Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương
- Tăng trưởng kinh tế năm 2025 tiếp tục duy trì thành tích cao và xu hướng cải thiện rõ nét theo quý, với quý sau cao hơn quý trước. Tổng sản phẩm trong nước (GDP) quý IV/2025 ước tăng 8,46% so với cùng kỳ năm trước, là mức tăng cao nhất của quý IV trong giai đoạn 2011-2025, tiếp đà phục hồi và mở rộng tăng trưởng bền vững của nền kinh tế. Diễn biến theo quý cho thấy tăng trưởng được cải thiện liên tục. Tính chung cả năm 2025, GDP ước tăng 8,02% so với năm trước, chỉ thấp hơn mức tăng của năm 2022 trong giai đoạn 2011-2025. Trong mức tăng tổng giá trị tăng thêm toàn nền kinh tế, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 3,78%, đóng góp 5,30%; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 8,95%, đóng góp 43,62%; khu vực dịch vụ tăng 8,62%, đóng góp 51,08%, tiếp tục giữ vai trò động lực chủ đạo của tăng trưởng.
- Khu vực sản xuất tiếp tục hoạt động ổn định, đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì đà tăng trưởng chung của nền kinh tế:
Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản nhìn chung vẫn được duy trì ổn định, ước tăng 3,78% so với năm trước. Hoạt động khai thác thủy sản tiếp tục là điểm sáng nhờ đẩy mạnh ứng dụng công nghệ cao, cải thiện năng suất và kiểm soát chi phí, trong khi mặt bằng giá bán duy trì ở mức đảm bảo lợi nhuận cho người nuôi.
Khu vực công nghiệp duy trì mức tăng cao, qua đó hỗ trợ đáng kể cho tăng trưởng chung của toàn nền kinh tế. Tốc độ tăng thêm khu vực công nghiệp và xây dựng ở mức cao 9,73%.
Sản xuất công nghiệp tiếp tục duy trì xu hướng tăng trưởng tích cực, chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) quý IV/2025 ước tăng 9,9% so với cùng kỳ năm trước do các doanh nghiệp đẩy mạnh sản xuất chuẩn bị hàng hóa đáp ứng nhu cầu tiêu dùng và xuất khẩu cuối năm. Tính chung năm 2025, chỉ số sản xuất ngành công nghiệp ước tăng 9,2% so với năm trước, là mức tăng cao nhất kể từ năm 2019 đến nay.
- Hoạt động thương mại và dịch vụ tiếp tục tăng trưởng tích cực, phản ánh sự phục hồi rõ nét của cầu tiêu dùng trong nước, du lịch nội địa và đặc biệt là sự bứt phá mạnh mẽ của khách quốc tế đến Việt Nam.
Tính chung cả năm 2025, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước đạt 7.008,9 nghìn tỷ đồng, tăng 9,2% so với năm 2024 (năm 2024 tăng 8,9%); nếu loại trừ yếu tố giá, tăng 6,7%.
Doanh thu dịch vụ lưu trú và ăn uống mở rộng đồng đều của các hoạt động dịch vụ hỗ trợ nền kinh tế.Cả năm 2025, doanh thu dịch vụ lưu trú và ăn uống ước đạt 843,1 nghìn tỷ đồng, chiếm 12,0% tổng mức, tăng 14,6% so với năm trước; doanh thu du lịch lữ hành đạt 93,9 nghìn tỷ đồng, chiếm 1,4%, tăng 20,2%, cho thấy vai trò ngày càng rõ nét của du lịch trong tăng trưởng khu vực dịch vụ; doanh thu dịch vụ khác đạt 736,8 nghìn tỷ đồng, chiếm 10,5%, tăng 11,5%.
Hoạt động vận tải, viễn thông và du lịch năm 2025 phục hồi mạnh mẽ phản ánh hồi phục của nhu cầu đi lại, giao thương, kết nối số và hội nhập quốc tế. Ngành viễn thông tiếp tục chuyển dịch sang hạ tầng số, với doanh thu cả năm ước đạt 380,0 nghìn tỷ đồng, tăng 6,0%, số thuê bao điện thoại đạt 123,6 triệu và thuê bao internet băng rộng cố định đạt 25,1 triệu, phản ánh nhu cầu kết nối chất lượng cao gia tăng. Du lịch quốc tế tăng trưởng đột phá, với gần 21,2 triệu lượt khách quốc tế đến Việt Nam, tăng 20,4%, chủ yếu qua đường hàng không, qua đó tạo động lực quan trọng cho khu vực dịch vụ và khẳng định vị thế ngày càng nâng cao của Việt Nam trong chuỗi du lịch khu vực và toàn cầu.
- Vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội năm 2025 tăng trưởng mạnh, trong đó vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tiếp tục đạt mức cao nhất trong nhiều năm:
Vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội tăng cao. Tổng vốn đầu tư toàn xã hội theo giá hiện hành ước đạt 4.150,5 nghìn tỷ đồng, tăng 12,1% so với năm 2024, cao hơn nhiều mức tăng 7,8% của năm trước.
Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt mức cao. Tính đến ngày 31/12/2025, tổng vốn đầu tư nước ngoài đăng ký vào Việt Nam đạt 38,42 tỷ USD, tăng 0,5% so với năm trước. Vốn đăng ký cấp mới có 4.054 dự án được cấp phép với số vốn đăng ký đạt 17,32 tỷ USD, tăng 20,1% so với năm trước về số dự án và giảm 12,2% về số vốn đăng ký.
Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện tại Việt Nam năm 2025 ước đạt 27,62 tỷ USD, tăng 9,0% so với năm trước. Đây là số vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện cao nhất trong 5 năm qua.
- Thương mại quốc tế sôi động, xuất nhập khẩu đạt mức tăng trưởng cao:
Hoạt động xuất nhập khẩu năm 2025 tăng trưởng mạnh, quy mô thương mại tiếp tục được mở rộng.Tính chung cả năm 2025, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa đạt 930,05 tỷ USD, tăng 18,2% so với năm trước, trong đó xuất khẩu đạt 475,04 tỷ USD, tăng 17,0%, và nhập khẩu đạt 455,01 tỷ USD, tăng 19,4%. Cán cân thương mại hàng hóa xuất siêu 20,03 tỷ USD, mặc dù thấp hơn mức xuất siêu năm 2024 (24,77 tỷ) nhưng vẫn phản ánh khả năng duy trì thặng dư thương mại trong bối cảnh tình hình kinh tế thế giới năm 2025 có nhiều biến động.
Về thị trường, Hoa Kỳ là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch 153,2 tỷ USD, trong khi Trung Quốc là thị trường nhập khẩu lớn nhất với 186,0 tỷ USD. Trong năm 2025, Việt Nam xuất siêu sang Hoa Kỳ 133,9 tỷ USD, nhập siêu lớn từ Trung Quốc (115,6 tỷ USD).
- Lạm phát trong tầm kiểm soát, CPI đạt mục tiêu quốc hội đề ra:
Mặt bằng giá tiêu dùng năm 2025 được kiểm soát hiệu quả, CPI bình quân tăng 3,31% so với năm 2024, đạt mục tiêu Quốc hội đề ra.
Lạm phát cơ bản bình quân năm 2025 tăng 3,21%, thấp hơn CPI chung, cho thấy áp lực lạm phát chủ yếu xuất phát từ các yếu tố giá mang tính hành chính và hàng hóa thiết yếu, trong khi lạm phát do cầu kéo và tiền tệ vẫn được kiểm soát.
- Ngân sách nhà nước năm 2025 vượt dự toán, thu - chi tăng mạnh, củng cố dư địa tài khóa:
Tổng thu ngân sách nhà nước năm 2025 ước đạt 2.650,1 nghìn tỷ đồng, bằng 134,7% dự toán năm và tăng 29,7% so với năm trước. Tổng chi ngân sách nhà nước năm 2025 ước đạt 2.401,5 nghìn tỷ đồng, bằng 93,2% dự toán năm và tăng 31,2% so với năm trước.
Theo các tổ chức nghiên cứu và định chế tài chính quốc tế lớn, triển vọng tăng trưởng kinh tế Việt Nam năm 2026 được đánh giá tích cực nhưng thận trọng, với mức dự báo dao động khá rộng, phản ánh sự đan xen giữa các động lực nội tại và rủi ro bên ngoài. Các tổ chức đa phương, như: IMF, OECD, ADB và World Bank nhìn chung dự báo tăng trưởng GDP Việt Nam quanh mức 5,6-6,1%, nhấn mạnh vai trò của FDI ổn định, tiêu dùng nội địa cải thiện, đầu tư công và môi trường vĩ mô tương đối ổn định như các trụ cột nâng đỡ tăng trưởng. Tuy nhiên, các đánh giá này cũng đồng thời cảnh báo rủi ro ngày càng rõ nét từ tác động trễ của các biện pháp thuế quan của Mỹ, căng thẳng thương mại toàn cầu và điều kiện tài chính quốc tế thắt chặt, có thể làm suy yếu xuất khẩu và đầu tư trong trung hạn.
Ngày 13/01/2026, Quốc hội đã phê duyệt Nghị quyết số 244/2025/QH15 về Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2026. Nghị quyết xác định năm 2026 là năm bản lề có ý nghĩa đặc biệt, gắn với nhiều sự kiện quan trọng, như Đại hội XIV của Đảng, bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026-2031, đồng thời là năm đầu thực hiện Kế hoạch 5 năm 2026-2030, mở ra giai đoạn phát triển mới hướng tới mục tiêu giàu mạnh, thịnh vượng. Nghị quyết nhấn mạnh ưu tiên thúc đẩy tăng trưởng gắn với giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát và bảo đảm các cân đối lớn, đồng thời đẩy mạnh hoàn thiện thể chế, tháo gỡ dứt điểm các điểm nghẽn, khơi thông và giải phóng mọi nguồn lực, nhanh chóng ổn định tổ chức bộ máy và xây dựng nền hành chính tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả. Trên cơ sở đó, Nghị quyết đề ra 15 chỉ tiêu chủ yếu cho năm 2026, nổi bật là phấn đấu tăng trưởng GDP từ 10% trở lên, CPI khoảng 4,5%. Với quyết tâm chính trị cao ngay từ năm đầu nhiệm kỳ và nếu tháo gỡ hiệu quả các điểm nghẽn thể chế, cộng hưởng với những thuận lợi từ kinh tế thế giới, năm 2026 có thể trở thành điểm khởi đầu vững chắc cho một chu kỳ tăng trưởng mới, bền vững và chất lượng hơn.
2. Một số nội dung trọng tâm cần tập trung tuyên truyền sau Đại hội lần thứ XIV của Đảng
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, diễn ra từ ngày 19-23/01/2026. Đây là sự kiện chính trị quan trọng của Đảng, trọng đại của đất nước; là dấu mốc đặc biệt trên con đường phát triển, mở ra kỷ nguyên mới, “kỷ nguyên vươn mình của dân tộc,” “tự chủ, tự tin, tự lực, tự cường, tự hào dân tộc”. Đại hội diễn ra trong bối cảnh quốc tế, khu vực thay đổi nhanh, có nhiều bất ổn, bất định, diễn biến rất phức tạp, khó dự báo; đất nước sau 40 năm đổi mới, cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế đã được nâng lên một tầm cao mới. Đại hội tiến hành kiểm điểm 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng; tổng kết một số vấn đề lý luận và thực tiễn về công cuộc đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa trong 40 năm qua ở Việt Nam; tổng kết công tác xây dựng Đảng và thi hành Điều lệ Đảng; đánh giá 5 năm thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2021-2030, phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2026-2030 và những năm tiếp theo; bầu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIV, nhiệm kỳ 2026-2031.
Nhằm tạo sự thống nhất cao về nhận thức, tư tưởng chính trị và hành động trong Đảng, sự đồng thuận trong xã hội về Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, tạo khí thế phấn khởi, củng cố niềm tin, kỳ vọng của Nhân dân vào sự phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới của dân tộc; cổ vũ hệ thống chính trị và các tầng lớp nhân dân chung sức, đồng lòng tiếp tục nỗ lực, phấn đấu vượt qua mọi khó khăn, thách thức, thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và 96 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (03/02/1930 - 03/02/2026), đề nghị tập trung tuyên truyền một số nội dung trọng tâm sau Đại hội XIV của Đảng như sau:
Thứ nhất, tuyên truyền kết quả bầu cử Ban Chấp hành Trung ương khóa XIV, Bộ Chính trị, Ban Bí thư và các cơ quan lãnh đạo chủ chốt của Đảng; nhấn mạnh tính kế thừa, ổn định và phát triển, sự kết hợp hài hòa giữa tiêu chuẩn, cơ cấu và yêu cầu thực tiễn; khẳng định đội ngũ cán bộ khóa mới đủ phẩm chất, năng lực, uy tín, ngang tầm nhiệm vụ, đáp ứng yêu cầu lãnh đạo đất nước trong giai đoạn phát triển mới. Qua đó, củng cố niềm tin của cán bộ, đảng viên và Nhân dân đối với công tác cán bộ của Đảng; phản bác kịp thời các quan điểm sai trái, xuyên tạc, phủ nhận chủ trương, đường lối và công tác nhân sự Đại hội.
Thứ hai, tập trung làm rõ những nội dung cốt lõi, điểm mới, tư duy mới và đột phá chiến lược của Nghị quyết Đại hội XIV; nhấn mạnh mục tiêu phát triển đất nước nhanh và bền vững, xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ gắn với chủ động, tích cực hội nhập quốc tế; phát triển khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số; phát huy mạnh mẽ mọi nguồn lực, nhất là nguồn lực con người và khu vực kinh tế tư nhân.
Đồng thời, cần khẳng định rõ Nghị quyết Đại hội XIV là sự kế thừa và phát triển sáng tạo đường lối đổi mới của Đảng, là kết quả của quá trình tổng kết sâu sắc lý luận và thực tiễn 40 năm đổi mới; thể hiện tầm nhìn chiến lược, tư duy đổi mới và quyết tâm chính trị cao của Đảng trong việc lãnh đạo đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới.
Thứ ba, tổ chức học tập, quán triệt sâu rộng Nghị quyết Đại hội XIV trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân; làm rõ trách nhiệm của các cấp ủy, tổ chức đảng trong việc xây dựng chương trình hành động, kế hoạch triển khai thực hiện nghị quyết phù hợp với từng cấp, từng ngành, từng địa phương, đơn vị.
Thông qua tuyên truyền, cần tạo sự thống nhất cao về nhận thức và hành động, gắn việc thực hiện Nghị quyết với các phong trào thi đua yêu nước, với việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; đưa nghị quyết sớm đi vào cuộc sống, trở thành động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của Nhân dân.
Thứ tư, tiếp tục tuyên truyền sâu sắc chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế; khẳng định Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy, là thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế.
Đồng thời, đẩy mạnh thông tin đối ngoại về kết quả Đại hội XIV, làm rõ các quan điểm, chủ trương nhất quán của Đảng và Nhà nước ta đến các chính đảng, tổ chức quốc tế, cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài; qua đó nâng cao vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế, góp phần tạo môi trường hòa bình, ổn định cho phát triển đất nước.
Thứ năm, tuyên truyền sâu rộng các phong trào thi đua yêu nước, các hoạt động, công trình chào mừng thành công của Đại hội XIV, Đại hội đảng bộ các cấp và 96 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (03/02/1930 - 03/02/2026); kịp thời phát hiện, biểu dương, nhân rộng các tổ chức đảng, đảng viên và tổ chức, cá nhân tiêu biểu trong các phong trào thi đua trên các lĩnh vực của đời sống xã hội.
Thứ sáu, tuyên truyền, phản ánh sâu sắc không khí phấn khởi, tin tưởng và kỳ vọng của cán bộ, đảng viên và Nhân dân trong nước, cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài sau Đại hội XIV của Đảng; sự quan tâm của các đảng, các nước và tổ chức quốc tế về Đảng Cộng sản Việt Nam, về Đại hội XIV của Đảng, đặc biệt là mong muốn của đảng viên và quần chúng nhân dân đối với Đảng.
Thứ bảy, tuyên truyền nâng cao ý thức cảnh giác, thực hiện tốt công tác bảo vệ chính trị nội bộ, bảo vệ bí mật nhà nước; đấu tranh, phản bác những thông tin, quan điểm sai trái, thù địch, gây mất ổn định chính trị, trật tự, an toàn xã hội, chống phá Đảng, Nhà nước và Đại hội XIV của Đảng, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc.
3. Kết quả công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực năm 2025
Tại Phiên thứ 29 ngày 25/12/2025, Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực (Ban Chỉ đạo) đã đánh giá kết quả công tác năm 2025 trên một số mặt sau:
Năm 2025 là năm cuối thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng trong điều kiện có nhiều khó khăn, thách thức, thiên tai, bão lụt diễn biến phức tạp chưa từng có, gây thiệt hại rất lớn về người và tài sản của Nhà nước và Nhân dân. Ban Chỉ đạo đã bám sát chỉ đạo của Trung ương, tập trung lãnh đạo, chỉ đạo đẩy mạnh công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực (PCTNLPTC), gắn với phát triển kinh tế - xã hội, vận hành chính quyền 2 cấp và tổ chức đại hội đảng bộ các cấp. Công tác PCTNLPTC tiếp tục được chỉ đạo mạnh mẽ, quyết liệt, toàn diện, với nhiều cách làm mới, mang lại hiệu quả rõ rệt, tạo sự đồng thuận, đồng lòng cao trong cán bộ, đảng viên và Nhân dân. Với những kết quả nổi bật là:
Công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế được tập trung chỉ đạo quyết liệt, vừa phục vụ các nhiệm vụ chiến lược, sắp xếp tổ chức bộ máy, đơn vị hành chính các cấp, kiến tạo không gian phát triển mới cho đất nước, vừa khắc phục những sơ hở, bất cập, nâng cao hiệu quả PCTNLPTC. Trong năm, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã ban hành trên 130 văn bản về xây dựng Đảng, hệ thống chính trị và PCTNLPTC. Quốc hội, Chính phủ đã sửa đổi, ban hành 89 luật, hơn 900 nghị định, chỉ thị, nghị quyết; trọng tâm là khắc phục những sơ hở, bất cập, mâu thuẫn, chồng chéo trong các văn bản pháp luật; hoàn thiện thể chế về hoạt động của bộ máy nhà nước theo mô hình chính quyền ba cấp, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Các bộ, ngành, địa phương đã sửa đổi, bổ sung, ban hành gần 12.000 văn bản hướng dẫn thực hiện các quy định của pháp luật về quản lý kinh tế - xã hội, góp phần nâng cao hiệu quả PCTNLPTC.
Công tác phát hiện, xử lý tham nhũng, lãng phí, tiêu cực tiếp tục được đẩy mạnh; các cơ quan chức năng đã tập trung kiểm tra, thanh tra, điều tra, xử lý dứt điểm các vụ án, vụ việc tham nhũng, lãng phí, tiêu cực nghiêm trọng phức tạp, dư luận xã hội quan tâm. Nhất là các vụ án, vụ việc gây ảnh hưởng lớn đến sự phát triển lành mạnh của nền kinh tế, sức khỏe của người dân, dư luận bức xúc; các vụ án, vụ việc có sự cấu kết, móc nối giữa cán bộ thoái hóa, biến chất với doanh nghiệp, tổ chức để trục lợi, thậm chí cả với bị can, đối tượng tội phạm núp bóng doanh nghiệp và các vụ, việc liên quan đến nhân sự đại hội đảng các cấp.
Từ đầu năm đến nay, cấp uỷ, uỷ ban kiểm tra các cấp đã thi hành kỷ luật hơn 330 tổ chức đảng và 9.600 đảng viên. Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã kỷ luật 23 cán bộ diện Trung ương quản lý; trong đó có 6 trường hợp bị xử lý hình sự. Qua thanh tra, kiểm toán đã kiến nghị thu hồi, xử lý tài chính 75.132 tỷ đồng và 633 ha đất; kiến nghị xử lý hành chính 928 tập thể và 3.058 cá nhân. Các cơ quan tiến hành tố tụng cả nước đã khởi tố mới 3.325 vụ/8.516 bị can về các tội tham nhũng, kinh tế, chức vụ, trong đó có 585 vụ án/1.585 bị can về các tội tham nhũng. Riêng các vụ án, vụ việc thuộc diện Ban Chỉ đạo theo dõi, chỉ đạo, đã khởi tố mới 6 vụ án/104 bị can từ 4 vụ việc; khởi tố bổ sung 172 bị can trong 16 vụ án; kết luận điều tra 14 vụ án/323 bị can; truy tố 14 vụ án/251 bị can; xét xử sơ thẩm 10 vụ án/167 bị cáo; xét xử phúc thẩm 14 vụ án/253 bị cáo; trong đó, đã kết thúc điều tra, truy tố, hoàn thành xét xử sơ thẩm một số vụ án trọng điểm theo kế hoạch của Ban Chỉ đạo.
Công tác thu hồi tài sản tiếp tục có chuyển biến tích cực. Trong năm, các cơ quan tố tụng đã tạm giữ, kê biên, phong tỏa, thu giữ số tài sản trị giá trên 1.270 tỷ đồng và nhiều tài sản có giá trị khác. Riêng các vụ án Ban Chỉ đạo theo dõi, chỉ đạo, trong giai đoạn thi hành án dân sự đã thu hồi gần 22.500 tỷ đồng (đạt 55%), nâng tổng số tiền thu hồi được từ khi thành lập Ban Chỉ đạo đến nay là 119.830 tỷ đồng.
Công tác phòng, chống lãng phí được chỉ đạo đẩy mạnh, tập trung tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, đưa vào khai thác, sử dụng nhiều công trình, dự án chậm tiến độ, tồn đọng kéo dài, nguy cơ thất thoát, lãng phí theo đúng nguyên tắc “không để lãng phí kéo dài nhưng cũng không hợp thức hóa sai phạm”, góp phần khơi thông nguồn lực, phục vụ phát triển kinh tế - xã hội. Qua rà soát của Chính phủ, các bộ, ngành, địa phương đã rà soát, phân loại, có phương án xử lý đối với gần 3.000 công trình, dự án chậm tiến độ, tồn đọng kéo dài, nguy cơ gây thất thoát, lãng phí. Đến nay, đã hoàn thành rà soát, xử lý đối với hơn 1.150 dự án và 10.971 cơ sở nhà, đất dôi dư sau sắp xếp đơn vị hành chính các cấp. Nhất là, đã hoàn thành xử lý, đưa vào khai thác, sử dụng đối với dự án xây dựng cơ sở 2 Bệnh viện Bạch Mai và cơ sở 2 Bệnh viện Hữu Nghị Việt Đức. Thanh tra Chính phủ đã quyết liệt triển khai, hoàn thành thanh tra đối với hơn 70 dự án, chỉ đạo hoàn thành thanh tra đối với 421 dự án chậm tiến độ, tồn đọng, kéo dài theo chỉ đạo của Ban Chỉ đạo. Các cơ quan tiến hành tố tụng cả nước đã khởi tố, điều tra 62 vụ án/373 bị can về các hành vi lãng phí để cảnh tỉnh, răn đe, phòng ngừa sai phạm.
Tập trung chỉ đạo triển khai đồng bộ, có hiệu quả công tác phòng ngừa tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, gắn với xây dựng, vận hành chính quyền địa phương 2 cấp và ứng dụng khoa học công nghệ, chuyển đổi số. Bộ Chính trị đã ban hành Chỉ thị số 42-CT/TW, ngày 16/01/2025 về giáo dục cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư và Chỉ thị số 53-CT/TW, ngày 26/10/2025 về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với việc thực hiện trách nhiệm giải trình của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động công vụ tạo chuyển biến tích cực trong nhận thức và hành động của cán bộ, đảng viên và nhân dân, góp phần phòng ngừa tham nhũng, lãng phí, tiêu cực từ gốc. Các cấp ủy, tổ chức đảng đã lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện các biện pháp phòng ngừa tham nhũng, lãng phí, tiêu cực trong sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị và công tác nhân sự đại hội đảng các cấp; thực hiện nghiêm chủ trương bố trí Bí thư cấp ủy, người đứng đầu chính quyền và một số chức danh không phải người địa phương. Chính phủ, các bộ, ngành, địa phương đã chú trọng triển khai việc ứng dụng khoa học, công nghệ, chuyển đổi số trong PCTNLPTC và phục vụ hoạt động của chính quyền các cấp.
Công tác PCTNLPTC ở địa phương, cơ sở tiếp tục có nhiều chuyển biến tích cực. Các Ban Chỉ đạo PCTNLPTC cấp tỉnh chủ động kiện toàn tổ chức bộ máy sau hợp nhất, sáp nhập; chỉ đạo triển khai khá toàn diện các nhiệm vụ, cả phòng ngừa và phát hiện, xử lý tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. Trong năm 2025, các Ban Chỉ đạo cấp tỉnh đã đưa gần 100 vụ án, vụ việc tham nhũng, lãng phí, tiêu cực vào theo dõi, chỉ đạo; chỉ đạo tăng cường kiểm tra, giám sát, thanh tra PCTNLPTC ở cấp cơ sở, chi bộ; xử lý nghiêm trách nhiệm người đứng đầu để xảy ra tham nhũng, lãng phí, tiêu cực (đã xử lý 98 người đứng đầu, cấp phó người đứng đầu do tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, trong đó có 46 trường hợp bị xử lý hình sự).
Các cơ quan chức năng PCTNLPTC đã khẩn trương, quyết liệt trong thực hiện cơ chế phối hợp, phát hiện, xử lý tham nhũng, tiêu cực qua công tác kiểm tra, giám sát, thanh tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án và tháo gỡ khó khăn, vướng mắc về giám định, định giá tài sản, cung cấp tài liệu và thu hồi tài sản; đồng thời đã chủ động phát hiện, xử lý nghiêm các cán bộ, đảng viên vi phạm do tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. Trong năm 2025, đã có hơn 250 trường hợp cán bộ, đảng viên các cơ quan chức năng PCTNLPTC bị xử lý kỷ luật do tham nhũng, tiêu cực, trong đó có hơn 60 trường hợp bị xử lý hình sự;...
Ban Chỉ đạo đã tổ chức Hội nghị toàn quốc tổng kết công tác PCTNLPTC nhiệm kỳ XIII quy mô lớn nhất từ trước đến nay với hơn 190 nghìn cán bộ, đảng viên tham dự, tạo thành đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng trong toàn hệ thống chính trị. Các cấp ủy, tổ chức đảng đã tiến hành tổng kết, đánh giá toàn diện công tác PCTNLPTC đến tận cấp cơ sở, chi bộ. Phát biểu kết luận Hội nghị, đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm, Trưởng Ban Chỉ đạo đã đánh giá toàn diện, sâu sắc những kết quả đạt được, khẳng định những thành tựu có tính đột phá, tạo nên dấu ấn nổi bật trong công tác PCTNLPTC nhiệm kỳ XIII. Đồng thời đã xác định rõ 03 yêu cầu, 05 nhiệm vụ trọng tâm, 03 đột phá với phương châm “Kiên trì - Quyết tâm - Đồng thuận - Toàn diện - Đột phá” đối với công tác PCTNLPTC trong thời gian tới.
4. Một số nhiệm vụ phát triển kinh tế tư nhân trong thời gian tới
Sau gần 8 tháng triển khai Nghị quyết 68-NQ/TW, nhận thức về vị trí, vai trò của kinh tế tư nhân, đặc biệt là vai trò một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc dân, đã thẩm thấu trong xã hội, doanh nghiệp, các cơ quan quản lý nhà nước. Toàn bộ 34/34 địa phương và 21 bộ, cơ quan đã ban hành Kế hoạch hành động thực hiện Nghị quyết. Phản hồi ý kiến doanh nghiệp nhiều hơn, niềm tin được củng cố và tăng cường. Khu vực kinh tế tư nhân đã đóng góp quan trọng vào tăng trưởng GDP dự kiến trên 8% và kỷ lục xuất nhập khẩu khoảng 920 tỷ USD năm 2025, Việt Nam được xếp vào nhóm 15 nước có quy mô thương mại quốc tế lớn nhất thế giới; góp phần triển khai Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
Công tác thể chế hoá, tổ chức thực hiện được chú trọng. Nghị quyết số 138/NQ-CP, 139/NQ-CP của Chính phủ giao các bộ, ngành, địa phương 69 nhiệm vụ, riêng năm 2025 cần hoàn thành 43 nhiệm vụ; đến nay cơ bản đã hoàn thành 37/43 nhiệm vụ (đạt trên 80%). Chính phủ đã trình Quốc hội ban hành 15 luật, 1 nghị quyết của Quốc hội và ban hành 15 nghị định quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành; ban hành Nghị quyết 66 với mục tiêu cắt giảm ít nhất 30% thời gian giải quyết thủ tục, 30% chi phí tuân thủ và 30% điều kiện kinh doanh trong năm 2025 và tiếp tục cắt giảm thời gian tới. Đã phê duyệt phương án cắt giảm hơn 3.000 thủ tục hành chính và hơn 2.200 điều kiện kinh doanh, góp phần giảm khoảng 13.200 ngày thực hiện thủ tục và chi phí cắt giảm tuân thủ thủ tục hành chính đạt hơn 34,2 nghìn tỷ đồng/năm. Các chính sách ưu đãi, hỗ trợ thuế, phí, tiếp cận vốn, đất đai, thủ tục đầu tư, môi trường kinh doanh... được các bộ, ngành, địa phương tập trung rà soát, hoàn thiện; đồng thời đẩy mạnh tuyên truyền, hỗ trợ các doanh nghiệp tư nhân, hộ kinh doanh.
Việc ban hành, triển khai Nghị quyết 68-NQ/TW tác động, ảnh hưởng đến sự phát triển của cộng đồng doanh nghiệp ngày càng rõ nét. Tính chung cả năm 2025, có hơn 300.000 doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động, tăng trên 30% và tổng số vốn đăng ký đạt trên 6 triệu tỷ đồng, tăng trên 71% so với năm 2024; qua đó nâng tổng số doanh nghiệp đang hoạt động lên gần 1,1 triệu doanh nghiệp. Số hộ kinh doanh chuyển đổi lên doanh nghiệp trong 11 tháng đạt khoảng 3.200 doanh nghiệp. Sau 3 lễ khởi công, khánh thành các công trình, dự án lớn, trọng điểm quốc gia đồng loạt trên cả nước trong năm 2025, đã có 564 công trình, dự án với tổng mức đầu tư trên 5,14 triệu tỷ đồng (tương đương khoảng 40% GDP), trong đó nguồn vốn tư nhân khoảng 3,8 triệu tỷ đồng, chiếm 74,6%. Vai trò của các hiệp hội doanh nghiệp, tổ chức đại diện cộng đồng doanh nghiệp được đề cao hơn, tham gia ngày càng thực chất vào quá trình xây dựng, phản biện chính sách.
Bên cạnh kết quả đạt được, việc triển khai Nghị quyết số 68 còn một số hạn chế, bất cập, khó khăn, thách thức. Để khắc phục tồn tại, hạn chế, tại Phiên họp lần thứ ba của Ban Chỉ đạo quốc gia triển khai Nghị quyết số 68-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân, ngày 20/12/2025, Thủ tướng yêu cầu:
Tập trung hoàn thành các nhiệm vụ còn lại từ nay đến cuối tháng 12/2025, trong đó có các văn bản cần sớm hoàn thiện, như: Nghị định về quỹ phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa; Cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai và quyết định hướng dẫn dự án xanh, tuần hoàn; Nghị định hướng dẫn hỗ trợ lãi suất 2% đối với dự án xanh, tuần hoàn; Chương trình hỗ trợ pháp lý liên ngành cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, hộ kinh doanh; Sửa đổi, bổ sung Nghị định 32 năm 2024 về cụm công nghiệp; Nghị quyết về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia năm 2026.
Trong quý I năm 2026, các bộ, ngành liên quan được giao nhiệm vụ khẩn trương ban hành hoặc trình ban hành trong quý I năm 2026 các văn bản hướng dẫn chi tiết các chính sách hỗ trợ kinh tế tư nhân về đất đai, mặt bằng sản xuất, hỗ trợ lãi suất, hỗ trợ công nghệ, chuyển đổi số, hỗ trợ đào tạo giám đốc điều hành, hỗ trợ pháp lý, phát triển các doanh nghiệp tiên phong, hỗ trợ các doanh nghiệp vươn ra thị trường quốc tế. Các địa phương thường xuyên trao đổi, nắm chắc tình hình của doanh nghiệp tại địa bàn; vận hành ổn định chính quyền địa phương hai cấp, đảm bảo việc hỗ trợ, đồng hành cùng doanh nghiệp.
Rà soát, khẩn trương đề xuất Chính phủ trong quý I năm 2026 các nội dung cụ thể sửa đổi Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa để thể chế hóa đầy đủ tinh thần của Nghị quyết số 68-NQ/TW về hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa; nghiên cứu xây dựng Luật Kinh doanh cá thể; hoàn thiện khung pháp lý về trái phiếu doanh nghiệp tại thị trường trong nước và chào bán trái phiếu doanh nghiệp ra thị trường quốc tế để nâng cao chất lượng và mở rộng kênh huy động vốn ổn định cho kinh tế tư nhân; hoàn thiện chế độ kế toán, bảo hiểm cho doanh nghiệp siêu nhỏ; xây dựng chương trình hỗ trợ sản xuất kinh doanh bền vững cho đối tượng doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh.
Khẩn trương tổ chức tổng kết, đánh giá đề án phát triển thị trường trong nước gắn với cuộc vận động Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam giai đoạn 2021-2025; tập trung xây dựng, hoàn thiện trình Thủ tướng Chính phủ trong quý I năm 2026 các đề án phát triển thị trường trong nước, chương trình xúc tiến thương mại quốc gia trong thời gian tới; tổ chức Hội chợ mùa Xuân năm 2026. Rà soát pháp luật về dân sự, tố tụng và các văn bản liên quan hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, hộ kinh doanh; thể chế hóa đầy đủ chủ trương của Đảng về phát triển kinh tế tư nhân, đặc biệt là Nghị quyết 68-NQ/TW. Tiếp tục rà soát Luật Đất đai và văn bản hướng dẫn thi hành theo hướng kiểm soát biến động giá đất, dành quỹ đất cho phát triển khu công nghiệp, cụm công nghiệp, vườn ươm...; khẩn trương hoàn thiện cơ chế hỗ trợ tiền thuê đất cho một số nhóm doanh nghiệp.
Rà soát, trình sửa đổi Luật Thi đua - Khen thưởng để quy định về thi đua, khen thưởng theo hướng đơn giản hóa thủ tục, mở rộng hình thức tôn vinh doanh nghiệp, doanh nhân tiêu biểu và chú trọng khen thưởng tôn vinh người lao động trực tiếp; nghiên cứu đề xuất cơ chế tăng cường sự tham gia của đội ngũ doanh nhân xuất sắc, có tâm, có tầm tham gia quản trị đất nước. Hoàn thiện pháp luật và hạ tầng thực thi về sở hữu trí tuệ đảm bảo chế tài nghiêm, đủ sức răn đe đối với hành vi vi phạm; đẩy mạnh thực hiện trực tuyến thủ tục xác lập quyền sở hữu trí tuệ, rút ngắn thời gian xử lý. Khẩn trương xây dựng, trình Thủ tướng Chính phủ trong quý I năm 2026 Chiến lược tài chính toàn diện giai đoạn 2026-2030; chỉ đạo các ngân hàng thương mại triển khai chính sách hỗ trợ lãi suất 2%/năm thông qua các ngân hàng thương mại cho các doanh nghiệp vay vốn để thực hiện các dự án xanh, tuần hoàn và áp dụng khung tiêu chuẩn môi trường, xã hội, quản trị (ESG).
Năm 2026, tiếp tục hoàn thiện thể chế, pháp luật để thúc đẩy mạnh mẽ kinh tế tư nhân theo tinh thần cải cách mạnh mẽ, thực chất của Nghị quyết 68-NQ/TW. Đẩy mạnh cải cách, cắt giảm thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh; tập trung chuyển đổi số để doanh nghiệp không phải đi lại nhiều lần, không phải chờ đợi, không phải xin cho; đẩy mạnh phân cấp, phân quyền đi đôi với phân bổ nguồn lực, nâng cao năng lực thực thi và tăng cường kiểm tra, giám sát; đẩy mạnh hậu kiểm, giảm tiền kiểm. Tạo mọi điều kiện thuận lợi phát triển đội ngũ doanh nghiệp tư nhân về số lượng và chất lượng, phát triển các doanh nghiệp lớn, dẫn dắt, đồng thời hỗ trợ hiệu quả doanh nghiệp nhỏ, siêu nhỏ, hộ kinh doanh; các doanh nghiệp hỗ trợ lẫn nhau, không để doanh nghiệp nhỏ và vừa bị bỏ lại phía sau; đồng thời tạo điều kiện thuận lợi để hộ kinh doanh đủ điều kiện chuyển đổi thành doanh nghiệp. Tăng cường đối thoại, lắng nghe, phản hồi kịp thời kiến nghị của doanh nghiệp. Đối thoại phải thực chất, không hình thức; phản hồi phải rõ ràng, đúng thời hạn, đúng thẩm quyền. Xây dựng cơ chế huy động nguồn lực, gồm nguồn lực bên trong và bên ngoài, nguồn lực nhà nước và tư nhân, kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại. Từng bộ, cơ quan, địa phương chủ động giải quyết các vấn đề theo chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình, phối hợp chặt chẽ với các cơ quan liên quan, thường xuyên đánh giá công tác triển khai Nghị quyết số 68-NQ/TW.
5. Chính sách thuế thu nhập cá nhân đối với nhà quản lý, chuyên gia, nhà khoa học, người có trình độ chuyên môn cao có liên quan đến hoạt động của Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam
Chính phủ ban hành Nghị định số 324/2025/NĐ-CP về chính sách tài chính trong Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam. Nghị định này gồm 9 chương, 76 điều quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị quyết số 222/2025/QH15 ngày 27/6/2025 về thành viên Trung tâm tài chính quốc tế; chính sách thuế, quản lý thuế và kế toán; chế độ tài chính trong lĩnh vực ngân hàng; cấp phép thành lập, hoạt động của tổ chức kinh doanh chứng khoán; chính sách bảo hiểm, tái bảo hiểm; chính sách về phát triển thị trường vốn và thử nghiệm có kiểm soát cho dịch vụ tài chính ứng dụng công nghệ và đổi mới sáng tạo; chính sách đối với nhà đầu tư chiến lược và chính sách phát triển hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội; thanh tra, kiểm tra, giám sát trong Trung tâm tài chính quốc tế. Đối tượng áp dụng là các thành viên của Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam; các nhà đầu tư; các cơ quan, tổ chức thuộc Trung tâm tài chính quốc tế; các cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan đến hoạt động của Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam được quy định tại Nghị quyết số 222/2025/QH15.
Về thuế thu nhập cá nhân, Nghị định quy định nhà quản lý, chuyên gia, nhà khoa học, người có trình độ chuyên môn cao làm việc tại Trung tâm tài chính quốc tế, bao gồm người Việt Nam và người nước ngoài được miễn thuế thu nhập cá nhân đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công có được từ thực hiện công việc tại Trung tâm tài chính quốc tế đến hết năm 2030. Thời gian miễn thuế tính liên tục kể từ tháng phát sinh thu nhập được miễn thuế. Trường hợp phát sinh thu nhập trong tháng thì thời gian tính miễn thuế được tính đủ tháng. Trường hợp cá nhân vừa có thu nhập từ tiền lương, tiền công được miễn thuế theo quy định tại điểm này vừa có thu nhập từ tiền lương, tiền công khác thì số thuế thu nhập cá nhân được miễn theo quy định tại điểm này được xác định như sau: Cá nhân có thu nhập từ chuyển nhượng cổ phần, phần vốn góp, quyền góp vốn vào thành viên được miễn thuế thu nhập cá nhân đối với khoản thu nhập này đến hết năm 2030.
Thu nhập từ chuyển nhượng cổ phần, phần vốn góp, quyền góp vốn quy định tại điểm này là thu nhập có được từ chuyển nhượng một phần hoặc toàn bộ cổ phần, phần vốn góp, quyền góp vốn vào thành viên (bao gồm cả trường hợp bán doanh nghiệp), trừ thu nhập từ chuyển nhượng cổ phiếu, quyền mua cổ phiếu của công ty đại chúng, tổ chức niêm yết đăng ký giao dịch theo quy định của pháp luật về chứng khoán. Trường hợp bán toàn bộ doanh nghiệp do cá nhân làm chủ sở hữu dưới hình thức chuyển nhượng vốn có gắn với bất động sản thì kê khai và nộp thuế thu nhập cá nhân theo hoạt động chuyển nhượng bất động sản.
Nhà quản lý, chuyên gia, nhà khoa học, người có trình độ chuyên môn cao phải đáp ứng tối thiểu các tiêu chí, điều kiện sau đây: Có trình độ đại học trở lên hoặc chứng chỉ nghề nghiệp uy tín được công nhận bởi các tổ chức chuyên môn quốc tế; ít nhất 5 năm kinh nghiệm làm việc, nghiên cứu hoặc giảng dạy trong lĩnh vực chuyên môn phù hợp với yêu cầu của Trung tâm tài chính quốc tế; hoặc đã và đang đảm nhiệm các chức danh quản lý từ cấp phòng trở lên tại các Trung tâm tài chính quốc tế trên thế giới hoặc tại các tổ chức tài chính, quỹ đầu tư hoặc tập đoàn đa quốc gia có danh tiếng.
Cơ quan điều hành xác định tiêu chí, điều kiện cụ thể đối với từng lĩnh vực chuyên môn phù hợp với yêu cầu của Trung tâm tài chính quốc tế. Chủ tịch cơ quan điều hành có thẩm quyền xác định và tuyển chọn nhà quản lý, chuyên gia, nhà khoa học, người có trình độ chuyên môn cao theo đề xuất của các cơ quan, đơn vị thuộc Trung tâm tài chính quốc tế và các Thành viên. Trường hợp doanh nghiệp, cá nhân có phát sinh thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp khác, thuế thu nhập cá nhân khác ngoài quy định của Nghị định này thì thực hiện theo quy định của pháp luật hiện hành về thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân và quản lý thuế.
Doanh nghiệp, cá nhân tại Trung tâm tài chính quốc tế thực hiện đăng ký, kê khai, nộp thuế, quyết toán các loại thuế, được áp dụng chế độ ưu tiên về thủ tục hành chính trong quản lý thuế theo quy định của pháp luật về quản lý thuế. Việc xác định thời điểm bắt đầu hưởng ưu đãi, thời gian miễn, giảm thuế thực hiện theo quy định pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp và pháp luật về thuế thu nhập cá nhân. Danh mục ngành, nghề ưu tiên phát triển tại Trung tâm tài chính quốc tế áp dụng ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp được quy định tại Nghị định của Chính phủ về thành lập Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam.
6. Một số kết quả và nhiệm vụ phát triển kinh tế hợp tác xã thời gian tới
Trong thời gian qua, kinh tế tập thể, hợp tác xã và doanh nghiệp đã có bước phát triển lớn mạnh cả về số lượng và chất lượng: Đến nay, cả nước có hơn 35 nghìn hợp tác xã với gần 6 triệu thành viên tham gia; có 164 liên hiệp hợp tác xã với hơn 1 nghìn hợp tác xã thành viên; gần 66 nghìn tổ hợp tác với hơn 1 triệu thành viên; đồng thời có khoảng 1 triệu doanh nghiệp đang hoạt động (tăng 20% so với năm 2020); đã có khoảng 4,7 nghìn hợp tác xã tham gia liên kết chuỗi giá trị và 2,6 nghìn hợp tác xã ứng dụng công nghệ cao. Trên cả nước đã có gần 3 nghìn dự án, kế hoạch liên kết giữa hợp tác xã và doanh nghiệp trong nhiều ngành, lĩnh vực được phê duyệt, triển khai, đa dạng về hình thức liên kết. Hoạt động liên kết giữa doanh nghiệp và hợp tác xã đã góp phần khơi thông những tiềm năng, phát triển thị trường ổn định, bền vững cho các sản phẩm chủ lực quốc gia, đặc biệt trong lĩnh vực nông nghiệp đã xuất hiện nhiều mô hình liên kết hiệu quả cao. Các dự án liên kết giữa hợp tác xã và doanh nghiệp bước đầu đã thu hút và sử dụng hiệu quả các nguồn lực của xã hội. Giai đoạn 2018 - 2025 cả nước đã huy động được nguồn vốn trên 15,2 nghìn tỷ đồng thực hiện các dự án, kế hoạch liên kết, trong đó ngân sách nhà nước gần 3,2 nghìn tỷ đồng (khoảng 21%), vốn đối ứng của các doanh nghiệp, hợp tác xã và người dân khoảng 79%. Bên cạnh đó, việc phát triển kinh tế tập thể, hợp tác vẫn còn tồn tại một số hạn chế, khó khăn, vướng mắc.
Phát triển kinh tế tập thể, hợp tác xã theo mô hình xanh, số, tuần hoàn và thúc đẩy liên kết với các thành phần kinh tế, trong đó có doanh nghiệp vừa là yêu cầu thực tiễn khách quan, vừa là giải pháp mang tính chiến lược để phát triển kinh tế - xã hội với phương châm: Nhà nước kiến tạo - Doanh nghiệp tiên phong - Hợp tác xã là hạt nhân - Nông dân, người lao động là chủ thể - Nhà khoa học tư vấn, đồng hành - Tổ chức tín dụng hỗ trợ - Xây dựng liên kết bền vững, hiệu quả. Tăng quy mô hỗ trợ từ ngân sách nhà nước để phát triển kinh tế tập thể, hợp tác xã
Để thực hiện được mục tiêu trên, tại Diễn đàn Kinh tế hợp tác, hợp tác xã năm 2025, các giải pháp được đưa ra là: Các bộ, cơ quan liên quan rà soát, sửa đổi, bổ sung ngay các quy định hiện hành không còn phù hợp nhằm đáp ứng yêu cầu thực tiễn về phát triển kinh tế tập thể, hợp tác xã trong bối cảnh mới; rà soát, sửa đổi, bổ sung các quy định để thúc đẩy phát triển nhanh, mạnh mẽ khu vực kinh tế tư nhân, trong đó cụ thể hóa các quy định về hỗ trợ doanh nghiệp tham gia cụm liên kết ngành, chuỗi giá trị; xây dựng khung chính sách phát triển chuỗi liên kết, chuỗi giá trị.
Hoàn thiện dự thảo Nghị định thay thế Nghị định số 57/2018/NĐ-CP ngày 17/4/2018 về cơ chế, chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn với những chính sách mang tính đột phá, nguồn lực đủ mạnh, đáp ứng yêu cầu của thực tiễn; rà soát Nghị định số 113/2024/NĐ-CP ngày 12/9/2024 quy định chi tiết một số điều của Luật Hợp tác xã để kịp thời sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện chính sách, thúc đẩy phát triển hiệu quả các hợp tác xã. Tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện chính sách hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận vốn vay ưu đãi từ Quỹ phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, trong đó ưu tiên các doanh nghiệp tham gia cụm liên kết ngành, chuỗi giá trị. Khẩn trương hoàn thiện, trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, ban hành các chương trình, đề án, kế hoạch liên quan đến phát triển kinh tế tập thể trong giai đoạn 2026-2030.
Nghiên cứu đề xuất cơ chế, nguồn lực tương xứng, trong đó tăng quy mô hỗ trợ từ ngân sách nhà nước để triển khai đồng bộ, hiệu quả các nhiệm vụ, giải pháp phát triển kinh tế tập thể, hợp tác xã trong thời gian tới. Xây dựng, triển khai ngay chương trình hỗ trợ chuyển đổi số cho các hợp tác xã trong năm 2026 nhằm nâng cao năng lực, sức cạnh tranh, đáp ứng yêu cầu liên kết với các doanh nghiệp và tiếp tục tổ chức hiệu quả Diễn đàn kinh tế hợp tác, hợp tác xã, trở thành kênh đối thoại chính sách thường xuyên, kết nối hợp tác xã với doanh nghiệp, nhà khoa học, tổ chức tài chính, các đối tác trong nước và quốc tế.
Khẩn trương trình Chính phủ về Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 98/2018/NĐ-CP ngày 05/7/2018 về chính sách khuyến khích phát triển hợp tác, liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp, trong đó cần tập trung: đổi mới, đơn giản hóa và quy định rõ các tiêu chí, trình tự, thủ tục, thẩm quyền phê duyệt; tăng cường phân cấp phân quyền cho địa phương trong quy trình xác nhận, phê duyệt dự án, kế hoạch liên kết; quy định rõ cơ chế phân phối lợi ích hài hòa, hợp lý và cơ chế bảo vệ quyền lợi của các tác nhân trong chuỗi giá trị; bổ sung các quy định hỗ trợ hình thành và vận hành chuỗi giá trị xanh, chuỗi giá trị số, gắn với truy xuất nguồn gốc và giảm phát thải, tín chỉ các-bon, quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn quốc tế; cập nhật, bổ sung danh mục các nội dung ưu tiên để hỗ trợ phù hợp với nhu cầu và điều kiện thực tiễn của từng vùng.
Xây dựng chương trình tổng thể về đào tạo nông dân số, nông dân chuyên nghiệp, đội ngũ quản trị hợp tác xã hiện đại, góp phần hình thành lực lượng lao động nông nghiệp có tri thức, kỹ năng tham gia chuỗi giá trị toàn cầu; xây dựng cơ chế đào tạo nghề, phát triển đội ngũ xã viên, nông dân có chất lượng, năng lực chuyên môn cao về xây dựng và vận hành chuỗi liên kết về nông sản. Nghiên cứu xây dựng cơ chế tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp, hợp tác xã chủ trì các dự án liên kết chuỗi được tiếp cận các gói tín dụng thương mại, tín dụng xanh, tín dụng ưu đãi. Xây dựng chương trình hỗ trợ các hợp tác xã trong công tác chuyển giao công nghệ. Xây dựng đội ngũ cán bộ của Liên minh Hợp tác xã Việt Nam đủ năng lực đáp ứng yêu cầu thực hiện các nhiệm vụ tư vấn, hỗ trợ phát triển hợp tác xã. Phát huy vai trò cầu nối thúc đẩy doanh nghiệp liên kết hiệu quả với hợp tác xã, hình thành chuỗi giá trị bền vững.
7. Kế hoạch thực hiện quy hoạch phát triển, ứng dụng năng lượng nguyên tử thời kỳ đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050
Với mục đích triển khai thực hiện Quyết định số 245/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch phát triển, ứng dụng năng lượng nguyên tử thời kỳ đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050 bảo đảm hiệu lực, hiệu quả; cụ thể hóa các mục tiêu, định hướng phát triển, ứng dụng bức xạ và đồng vị phóng xạ trong các ngành, lĩnh vực, giải pháp và nguồn lực thực hiện gắn với phân công trách nhiệm của các bộ, ngành, địa phương trong việc triển khai thực hiện Quy hoạch; xây dựng lộ trình, xác định nội dung trọng tâm, tiến độ và nguồn lực thực hiện các chương trình, dự án, đề án quan trọng, ưu tiên đầu tư.
Kế hoạch thực hiện quy hoạch phát triển, ứng dụng năng lượng nguyên tử thời kỳ đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050 được phê duyệt bởi Quyết định số 2736/QĐ-TTg ngày 17/12/2025 đưa ra các nội dung chính cần triển khai thực hiện các mục tiêu cụ thể đến năm 2030 như: Phát triển, ứng dụng bức xạ và đồng vị trong ngành y tế; phát triển, ứng dụng bức xạ và đồng vị trong ngành tài nguyên và môi trường; phát triển, ứng dụng bức xạ và đồng vị trong ngành nông nghiệp; phát triển, ứng dụng bức xạ và đồng vị trong ngành công nghiệp; phát triển tiềm lực khoa học và công nghệ hạt nhân, đào tạo nguồn nhân lực, bảo đảm an toàn, an ninh hạt nhân.
Về phát triển, ứng dụng bức xạ và đồng vị trong ngành y tế: Hoàn thành việc nâng cấp và phát triển mạng lưới các cơ sở xạ trị, y học hạt nhân, điện quang đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh của người dân, nâng cao hiệu quả, bảo đảm chất lượng và an toàn bức xạ trong chẩn đoán và điều trị. Các nhiệm vụ thực hiện mục tiêu cụ thể phát triển, ứng dụng bức xạ và đồng vị trong ngành y tế đến năm 2030: Đầu tư, nâng cấp hoặc xây dựng mới các khoa ung bướu có thiết bị xạ trị, khoa y học hạt nhân tại các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (ưu tiên đầu tư tại các vùng mà hiện nay việc đầu tư còn hạn chế); đầu tư mua sắm, tăng cường trang thiết bị xạ trị, xạ hình, điện quang cho các cơ sở y học bức xạ tại các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; các thiết bị tiên tiến, hiện đại cho các cơ sở xạ trị và y học hạt nhân của các bệnh viện Trung ương. Khuyến khích các bệnh viện tư nhân đầu tư các thiết bị tiên tiến, hiện đại ứng dụng bức xạ và đồng vị bức xạ phục vụ chẩn đoán và điều trị bệnh phù hợp với yêu cầu; xây dựng hệ thống kiểm định liều lượng lâm sàng đối với các cơ sở xạ trị, y học hạt nhân và điện quang. Tham gia chương trình kiểm định chất lượng toàn diện về xạ trị, y học hạt nhân và điện quang của Cơ quan Năng lượng nguyên tử quốc tế...
Về phát triển tiềm lực khoa học và công nghệ hạt nhân, đào tạo nguồn nhân lực, bảo đảm an toàn, an ninh hạt nhân: Nâng cao tiềm lực khoa học và công nghệ hạt nhân, hoàn thiện hệ thống pháp luật, nâng cao năng lực quản lý nhà nước về phát triển, ứng dụng năng lượng nguyên tử, bảo đảm an toàn, an ninh hạt nhân, phát triển nguồn nhân lực. Các nhiệm vụ thực hiện mục tiêu phát triển tiềm lực khoa học và công nghệ hạt nhân, đào tạo nguồn nhân lực, bảo đảm an toàn, an ninh hạt nhân đến năm 2030: Nâng cấp và xây dựng mới một số phòng thí nghiệm hiện đại về nghiên cứu, ứng dụng khoa học và kỹ thuật hạt nhân, công nghệ bức xạ; tăng cường năng lực cơ quan an toàn bức xạ và hạt nhân quốc gia; tăng cường năng lực quản lý nhà nước về phát triển, ứng dụng năng lượng nguyên tử và bảo đảm an toàn, an ninh hạt nhân...
Các cơ sở nghiên cứu, ứng dụng, đào tạo trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử được nâng cấp cơ sở vật chất kỹ thuật, nâng cao chất lượng nhân lực, hiệu quả hoạt động. Các cơ quan chức năng liên quan sẽ nghiên cứu xây dựng đề án thành lập Viện/Trung tâm quốc gia về y học bức xạ; đầu tư trang thiết bị và nhân lực cho một số khoa ung bướu có thiết bị xạ trị (hoặc khoa xạ trị), y học hạt nhân đầu ngành bao gồm cả Trung tâm Y học hạt nhân và Ung bướu của Quân đội; phát triển nguồn nhân lực có chuyên môn, bổ sung trang thiết bị chuyên ngành năng lượng nguyên tử cho các đơn vị thực hiện công tác điều tra địa chất, khoáng sản, quan trắc khí tượng thủy văn, tài nguyên nước, môi trường phục vụ phát triển kinh tế - xã hội; xây dựng các nhóm nghiên cứu mạnh về ứng dụng bức xạ và đồng vị phóng xạ trong tạo, chọn giống cây trồng; kiểm soát côn trùng, sinh vật gây hại; chiếu xạ thực phẩm nhằm tăng cường ứng dụng năng lượng nguyên tử trong nông nghiệp...
Các cơ quan chức năng liên quan sẽ triển khai một số dự án quan trọng sau: Nâng cấp và hoàn thiện mạng lưới quan trắc và cảnh báo phóng xạ môi trường quốc gia; tăng cường năng lực nghiên cứu - triển khai và hỗ trợ kỹ thuật của Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam; xây dựng dự án đầu tư máy gia tốc Cyclotron và hệ thống phòng thí nghiệm tại Hà Nội để thực hiện nghiên cứu và phát triển thuốc phóng xạ; nâng cao năng lực y học bức xạ quốc gia và tổ chức thực hiện kiểm soát chiếu xạ y tế trong cả nước theo hướng dẫn của Cơ quan Năng lượng nguyên tử quốc tế và Tổ chức Y tế thế giới; thiết lập các trạm quan trắc về ứng dụng kỹ thuật nơtron tia vũ trụ hỗ trợ đo độ ẩm đất, lập bản đồ độ ẩm đất, giám sát cảnh báo hạn hán; các trạm quan trắc đồng vị bền trong nguồn nước tại hệ thống các sông lớn của Việt Nam.
8. Tăng cường công tác người cao tuổi thích ứng với già hóa dân số
Thời gian qua, công tác người cao tuổi đã được Ủy ban Quốc gia về người cao tuổi Việt Nam và các bộ, ngành, địa phương tích cực triển khai thực hiện, đạt nhiều kết quả quan trọng, khá toàn diện trên các lĩnh vực, góp phần nâng cao chất lượng đời sống vật chất và tinh thần, bảo vệ, chăm sóc và phát huy tiềm năng, vai trò của người cao tuổi trong công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc, phát triển đất nước. Bên cạnh các kết quả đã đạt được, công tác người cao tuổi còn bộc lộ một số tồn tại, hạn chế, chưa phù hợp với tình hình và yêu cầu thực tiễn.
Để tăng cường, nâng cao chất lượng công tác người cao tuổi, góp phần thích ứng với xu hướng già hóa dân số, thúc đẩy phát triển nhanh bền vững, thực hiện ý kiến chỉ đạo của Tổng Bí thư Tô Lâm tại Hội nghị toàn quốc quán triệt, triển khai thực hiện 04 nghị quyết của Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế, an ninh năng lượng quốc gia, đột phá phát triển giáo dục và đào tạo và bảo vệ, chăm sóc, nâng cao sức khỏe nhân dân ngày 16/9/2025, tại Chỉ thị số 35/CT-TTg ngày 23/12/2025, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu các bộ, ngành, địa phương căn cứ chức năng, nhiệm vụ được giao, tập trung triển khai thực hiện đồng bộ, hiệu quả các giải pháp thích ứng với già hóa dân số; coi công tác người cao tuổi là nhiệm vụ thường xuyên, lâu dài, gắn với mục tiêu phát triển bền vững; phối hợp chặt chẽ với Bộ Y tế trong quá trình thực hiện công tác người cao tuổi.
Xây dựng Luật sửa đổi, bổ sung Luật Người cao tuổi bảo đảm có tầm nhìn chiến lược, khả thi và đồng bộ, đảm bảo phát huy mạnh mẽ vai trò, tiềm năng, tri thức và kinh nghiệm của người cao tuổi trong các lĩnh vực đời sống xã hội, thích ứng với già hóa dân số. Trình Chính phủ ban hành Nghị định sửa đổi, bổ sung Nghị định số 103/2017/NĐ-CP ngày 12/9/2017 của Chính phủ quy định về việc thành lập, tổ chức, hoạt động, giải thể và quản lý các cơ sở trợ giúp xã hội, bảo đảm phù hợp với tình hình thực tiễn. Hướng dẫn các địa phương phát triển các mô hình chăm sóc ban ngày, nhà sinh hoạt cộng đồng theo hướng sáng đón đi, tối đưa về; hỗ trợ chăm sóc người cao tuổi tại gia đình, cộng đồng và các cơ sở chăm sóc người cao tuổi; đẩy mạnh phát triển các câu lạc bộ cho người cao tuổi và câu lạc bộ liên thế hệ tự giúp nhau. Tập trung cải cách thủ tục hành chính, liên thông chia sẻ dữ liệu, hướng dẫn người cao tuổi dễ dàng thực hiện các thủ tục hành chính trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước của Bộ Y tế.
Tiếp tục thực hiện các chính sách hỗ trợ nhà ở phòng, tránh bão, lũ đối với hộ nghèo, cận nghèo, trong đó đặc biệt ưu tiên hộ nghèo, cận nghèo có người cao tuổi. Hỗ trợ, tạo điều kiện để người cao tuổi tham gia đẩy mạnh chuyển đổi số, khởi nghiệp; thực hiện việc chủ trì đề tài, dự án nghiên cứu khoa học, đổi mới sáng tạo phù hợp. Xây dựng Công ước Quốc tế về người cao tuổi theo chủ trương của Chính phủ Việt Nam; phối hợp, hỗ trợ Trung ương Hội người cao tuổi Việt Nam tăng cường công tác đối ngoại Nhân dân; huy động các nguồn lực nước ngoài hỗ trợ cho công tác người cao tuổi.
Nghiên cứu, phối hợp xây dựng các mô hình phát triển nền kinh tế bạc thích ứng với già hóa dân số tại Việt Nam. Tổ chức tốt Ngày Hội người cao tuổi trồng cây đời đời nhớ ơn Bác Hồ hằng năm. Phát huy các thiết chế văn hóa hiện có nhằm chăm lo đời sống văn hóa, tinh thần; tổ chức các hoạt động thể dục, văn hóa, văn nghệ nhằm nâng cao sức khỏe thể chất, tinh thần cho người cao tuổi. Tăng cường thực hiện hiệu quả các chính sách đối với người cao tuổi ở các vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
Triển khai Chiến lược quốc gia về người cao tuổi. Quy hoạch mạng lưới cơ sở trợ giúp xã hội. Xem xét, hoàn thiện cơ chế, chính sách, khuyến khích xã hội hóa, thu hút đầu tư phát triển mạng lưới các cơ sở chăm sóc người cao tuổi ngoài công lập, kết hợp chăm sóc - y tế - phục hồi chức năng trên địa bàn theo quy định. Rà soát, sắp xếp lại các trụ sở, cơ sở vật chất dôi dư để ưu tiên, phát triển các trung tâm chăm sóc ban ngày, nhà sinh hoạt cộng đồng và các câu lạc bộ cho người cao tuổi tại xã, phường, đặc khu; thực hiện đồng bộ các giải pháp chăm sóc người cao tuổi tại nhà và cộng đồng, tăng khả năng tiếp cận dịch vụ chăm sóc xã hội. Tổ chức các diễn đàn kinh tế bạc để thúc đẩy việc xây dựng các mô hình phát triển kinh tế bạc phù hợp ở Việt Nam…
9. Đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao người dân tộc thiểu số trong một số ngành, lĩnh vực trọng điểm
Với mục tiêu nhằm mở rộng công bằng trong tiếp cận giáo dục chất lượng cao, tạo điều kiện để người dân tộc thiểu số được học tập trong các ngành, lĩnh vực trọng điểm có nhu cầu nhân lực cao. Trên cơ sở đó, hình thành lực lượng lao động, cán bộ nòng cốt có đủ trình độ, phẩm chất và năng lực, đóng góp trực tiếp vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội của các địa phương vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.
Giai đoạn 2026-2035, phấn đấu tuyển mới hằng năm từ 2.000 đến 2.500 sinh viên trình độ cao đẳng, đại học; trong đó thu hút từ 1.000 đến 1.500 sinh viên có tiềm năng để đào tạo, hình thành lực lượng lao động, cán bộ nòng cốt phục vụ phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Tỉ lệ người học theo các nhóm ngành sức khỏe dự kiến đạt từ 7% đến 10%, nông - lâm nghiệp từ 5% đến 10%, du lịch từ 5% đến 10%, còn lại thuộc các ngành, lĩnh vực khác. Quy mô đào tạo trình độ thạc sĩ, tiến sĩ là người dân tộc thiểu số phấn đấu tăng tối thiểu 10% mỗi năm; quy mô tuyển sinh đào tạo dự bị đại học cũng phấn đấu tăng ít nhất 10% hằng năm.
Năm 2045, tiếp tục mở rộng quy mô và phạm vi đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao là người dân tộc thiểu số trong một số ngành, lĩnh vực trọng điểm, có thế mạnh, đáp ứng mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.
Trong giai đoạn 2026-2030, tập trung đào tạo các ngành, lĩnh vực: sức khỏe, công nghệ thông tin, nông nghiệp, tài chính - ngân hàng, đào tạo giáo viên, du lịch và công tác xã hội; giai đoạn 2030-2035 sẽ mở rộng thêm các ngành, lĩnh vực đào tạo phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
Đề án “Đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao người dân tộc thiểu số trong một số ngành, lĩnh vực trọng điểm giai đoạn 2026-2035, định hướng đến năm 2045” được phê duyệt bởi Quyết định số 2776/QĐ-TTg ngày 24/12/2025 đề ra nhiều nhóm giải pháp trọng tâm, xuyên suốt từ tạo nguồn, tổ chức đào tạo đến bảo đảm đầu ra và hoàn thiện cơ chế, chính sách:
Tập trung nâng cao năng lực và chất lượng hệ thống cơ sở đào tạo, đặc biệt là các trường phổ thông dân tộc nội trú, bán trú và cơ sở dự bị đại học; đồng thời đầu tư có trọng tâm cho một số cơ sở giáo dục đại học chủ chốt nhằm bảo đảm điều kiện về cơ sở vật chất, chương trình đào tạo và đội ngũ giảng viên, đáp ứng yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho người dân tộc thiểu số. Chương trình, giáo trình và tài liệu giảng dạy sẽ được rà soát, điều chỉnh hoặc xây dựng mới theo hướng hiện đại, phù hợp với trình độ người học và điều kiện kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số, miền núi, biên giới, hải đảo.
Đẩy mạnh chuyển đổi số và ứng dụng khoa học, công nghệ trong đào tạo thông qua việc xây dựng nền tảng quản lí đào tạo số thống nhất, ứng dụng trí tuệ nhân tạo và dữ liệu lớn trong tuyển sinh, quản lí người học, phân tích và dự báo nhu cầu nhân lực. Hệ thống học liệu số đa ngôn ngữ, bao gồm tiếng Việt và một số tiếng dân tộc phổ biến, sẽ được phát triển nhằm mở rộng khả năng tiếp cận tri thức, góp phần nâng cao hiệu quả và chất lượng đào tạo.
Chú trọng huy động, đa dạng hóa nguồn lực triển khai, trong đó ngân sách nhà nước giữ vai trò chủ đạo và được lồng ghép với các chương trình, đề án, chương trình mục tiêu quốc gia có liên quan; khuyến khích hợp tác công - tư, huy động sự tham gia của doanh nghiệp, cơ sở đào tạo tư thục và các nguồn lực xã hội hợp pháp nhằm hỗ trợ đào tạo, phát triển nguồn nhân lực người dân tộc thiểu số theo quy định của pháp luật.
Xây dựng hệ sinh thái đào tạo gắn với thị trường lao động, bảo đảm đầu ra bền vững cho người học. Các cơ sở đào tạo sẽ tăng cường kết nối với doanh nghiệp, trung tâm dịch vụ việc làm và chính quyền địa phương để tư vấn, giới thiệu việc làm ngay trong quá trình đào tạo; đồng thời xây dựng hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu về nghề nghiệp, thị trường lao động và xu hướng việc làm theo từng vùng, miền. Khuyến khích phát triển các mô hình khởi nghiệp, hỗ trợ vay vốn và bồi dưỡng kĩ năng quản trị, kinh doanh cho người học sau đào tạo, gắn đào tạo với phát triển kinh tế tư nhân và sinh kế bền vững tại địa phương.
Tập trung nghiên cứu, hoàn thiện các cơ chế, chính sách đặc thù cho người học là người dân tộc thiểu số, như miễn, giảm học phí, hỗ trợ chi phí học tập, sinh hoạt, chỗ ở, bồi dưỡng ngoại ngữ, tin học; xây dựng cơ chế phát hiện, bồi dưỡng tài năng; đổi mới tuyển sinh, đào tạo linh hoạt và chính sách thu hút giáo viên, cán bộ chất lượng cao công tác tại vùng sâu, vùng xa, biên giới. Công tác tư vấn hướng nghiệp, truyền thông và hợp tác quốc tế được nhấn mạnh nhằm định hướng nghề nghiệp phù hợp, lan tỏa chính sách, khơi dậy khát vọng học tập, đồng thời tạo điều kiện cho sinh viên dân tộc thiểu số xuất sắc học tập, trao đổi ở nước ngoài, góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực lâu dài.
Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương