1. Nghị quyết số 80-NQ/TW, ngày 07/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam
Nghị quyết đề ra mục tiêu đến năm 2030: Đẩy mạnh xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; thống nhất trong đa dạng; mang đặc trưng dân tộc, dân chủ, nhân văn, khoa học, hiện đại. Xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh từ gia đình, nhà trường đến xã hội vàkhông gian số. Phát triển văn học, nghệ thuật xứng tầm với lịch sử văn hóa dân tộc và tầm vóc đất nước trong kỷ nguyên mới. Cơ bản hoàn thành việc tu bổ, tôn tạo các di tích quốc gia đặc biệt; phục hồi, bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể, nghệ thuật truyền thống có nguy cơ mai một, cần bảo vệ khẩn cấp. Đẩy mạnh phát triển các ngành công nghiệp văn hóa; hình thành hệ sinh thái khởi nghiệp công nghiệp văn hóa, nghệ thuật sáng tạo. Xây dựng một số tập đoàn công nghiệp văn hóa, cụm, khu công nghiệp sáng tạo, tổ hợp sáng tạo văn hóa tầm cỡ quốc tế dựa trên nền tảng công nghệ cao và các mô hình kinh doanh đổi mới sáng tạo. Chủ động, tích cực hội nhập quốc tế về văn hóa; xây dựng Việt Nam trở thành điểm đến hấp dẫn của các sự kiện văn hóa, nghệ thuật tầm cỡ khu vực và thế giới
.
Tầm nhìn đến năm 2045: Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam xã hội chủ nghĩa, trong đó con người là trung tâm, chủ thể, mục tiêu, động lực của phát triển; các giá trị văn hóa giữ vai trò nền tảng, chuẩn mực và được thẩm thấu trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Khẳng định vị thế văn hóa của quốc gia phát triển có thu nhập cao, định hướng xã hội chủ nghĩa. Việt Nam là điểm đến hấp dẫn của các sự kiện văn hóa, nghệ thuật tầm cỡ khu vực và quốc tế; trở thành một trong những trung tâm công nghiệp văn hóa - sáng tạo năng động, với một số chỉ tiêu chính gồm: Công nghiệp văn hóa, kinh tế sáng tạo thực sự trở thành trụ cột của phát triển bền vững, phấn đấu đóng góp 9% GDP; có 10 thương hiệu liên hoan nghệ thuật, lễ hội văn hóa tầm vóc quốc tế; phấn đấu thêm khoảng 8 - 10 di sản văn hóa được UNESCO công nhận, ghi danh; phấn đấu nằm trong Top 3 khu vực ASEAN và Top 30 thế giới về Chỉ số Sức mạnh mềm (Soft Power Index) của quốc gia và giá trị xuất khẩu sản phẩm công nghiệp văn hóa.
Để thực hiện tốt các mục tiêu đề ra, Bộ Chính trị đề ra 08 nhiệm vụ, giải pháp như sau
:
(1) Đổi mới mạnh mẽ tư duy, thống nhất cao về nhận thức và hành động nhằm phát triển văn hóa trong kỷ nguyên mới.
(2) Hoàn thiện thể chế tạo đột phá chiến lược, khơi thông nguồn lực phát triển văn hóa.
(3) Chú trọng xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện, xây dựng môi trường văn hóanhân văn, lành mạnh, văn minh, hiện đại.
(4) Đổi mới phương thức quản lý văn hóa theo hướng kiến tạo, phục vụ; đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số tạo động lực bứt phá cho phát triển văn hóa
.
(5) Xây dựng hệ sinh thái văn hóa, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, trong đó doanh nghiệp là động lực, người dân vừa là chủ thể vừa là trung tâm; nhận diện và ứng xử thích hợp tài nguyên văn hóa.
(6) Thúc đẩy phát triển các ngành công nghiệp văn hóa, thị trường văn hóa, định vị sản phẩm văn hóa thương hiệu quốc gia gắn với phát triển du lịch văn hóa.
(7) Huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực, phát triển hạ tầng, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực văn hóa đáp ứng yêu cầu của kỷ nguyên mới.
(8) Chủ động, tích cực hội nhập quốc tế về văn hóa, phát huy giá trị văn hóa Việt Nam, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, góp phần gia tăng sức mạnh mềm quốc gia.
2. Kết luận số 229-KL/TW, ngày 05/01/2026 của Bộ Chính trị, Ban Bí thư về thực hiện một số nội dung, nhiệm vụ trọng tâm trong hoạt động của tổ chức cơ sở đảng trong thời gian tới
Theo đó, tại phiên họp ngày 30/12/2025, trên cơ sở Báo cáo của Ban Tổ chức Trung ương về tình hình hoạt động của tổ chức cơ sở đảng quý IV/2025, Bộ Chính trị, Ban Bí thư kết luận như sau: Cơ bản thống nhất với nội dung báo cáo và kiến nghị, đề xuất của Ban Tổ chức Trung ương về tình hình hoạt động của tổ chức cơ sở đảng quý IV/2025. Yêu cầu các cấp ủy, tổ chức đảng từ Trung ương đến địa phương xác định quý I/2026 là đợt cao điểm để đưa hoạt động của tổ chức cơ sở đảng vào nền nếp, tạo nền tảng vững chắc cho việc thực hiện thắng lợi nghị quyết đại hội đảng bộ các cấp và Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng; tiếp tục lãnh đạo, chỉ đạo đồng bộ các giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của các tổ chức cơ sở đảng; tập trung những nội dung trọng tâm sau:
Một là, các tỉnh ủy, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Trung ương chủ động: (i) Tổ chức triển khai quán triệt, học tập Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng; xây dựng chương trình, kế hoạch hành động cụ thể, phù hợp với tình hình thực tiễn của từng địa phương, đơn vị; tập trung chỉ đạo, phối hợp chuẩn bị các nội dung phục vụ công tác tổ chức bầu cử Đại biểu Quốc hội khóa XVI và Đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026-2031. (ii) Tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ, đặc biệt là sinh hoạt chuyên đề gắn với triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và của đảng bộ. Phân công các đồng chí cấp ủy viên phụ trách các tổ chức đang trực tiếp chỉ đạo công tác tạo nguồn, phát triển đảng viên. Tiếp tục chủ động đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cấp ủy viên, bí thư chi bộ và cán bộ, công chức, viên chức ở cơ sở đáp ứng yêu cầu về năng lực, trình độ, kỹ năng. (iii) Huy động, phát huy vai trò, trí tuệ của lực lượng thanh niên tham gia hỗ trợ phong trào “bình dân học vụ số” trong cộng đồng dân cư. Đẩy mạnh xây dựng và kết nối các cơ sở dữ liệu chuyên ngành và hạ tầng công nghệ thông tin thông suốt trong toàn bộ hệ thống từ Trung ương đến cơ sở; tiếp tục rà soát, rút ngắn các thủ tục hành chính, tăng cuờng triển khai toàn bộ các thủ tục hành chính trên hệ thống dịch vụ công phục vụ hiệu quả người dân và doanh nghiệp.
Hai là, giao Ban Tuyên giáo và Dận vận Trung ương: (i) Chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan hướng dẫn, tổ chức nghiên cứu, học tập, quán triệt, tuyên truyền Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, thực hiện đổi mới cách thức tổ chức, bảo đảm thực sự hiệu quả (hoàn thành trước ngày 16/02/2026). (ii) Chủ trì, phối hợp với Ban Tổ chức Trung ương và các cơ quan liên quan tham mưu ban hành Quy định mới thay thế Quy định số 213-QĐ/TW, ngày 02/01/2020 của Bộ Chính trị về trách nhiệm của đảng viên đang công tác thường xuyên giữ mối liên hệ nơi cư trú. (iii) Chỉ đạo đẩy mạnh, kịp thời cung cấp văn bản, tài liệu của Đảng, Nhà nước, các cấp ủy, tổ chức đảng, thông tin sinh hoạt chi bộ lên ứng dụng Sổ tay đảng viên điện tử để giúp đảng viên chủ động nghiên cứu, học tập.
Ba là, giao Văn phòng Trung ương Đảng: (i) Chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan rà soát, cắt giảm, hợp nhất các loại báo cáo hiện nay, bảo đảm tinh gọn báo cáo, hiệu quả, thông suốt thông tin, sát thực tiễn, phù hợp yêu cầu đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng trong tình hình mới. (ii) Nghiên cứu tham mưu xây dựng Quy định về chế độ chi hoạt động công tác đảng của tổ chức cơ sở đảng, đảng bộ cấp trên trực tiếp cơ sở. (iii) Hướng dẫn về việc quản lý và sử dụng đảng phí; khẩn trương làm sạch cơ sở dữ liệu đảng viên; hướng dẫn, đánh giá, kịp thời điều chỉnh, hoàn thiện Hệ thống phần mềm phục vụ triển khai các thủ tục hành chính của Đảng trên môi trường điện tử nhằm thúc đẩy công tác chuyển đổi số trong Đảng, nâng cao chất lượng công tác quản lý đảng viên, tạo sự kết nối kịp thời, nhanh chóng giữa cấp ủy, tổ chức đảng và đảng viên.
Bốn là, giao Ban Tổ chức Trung ương: (i) Chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan triển khai cấp phát thẻ đảng viên thường xuyên. (ii) Rà soát, tham mưu sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện chức năng, nhiệm vụ, mối quan hệ công tác của các loại hình tổ chức cơ sở đảng. (iii) Nghiên cứu tham mưu sửa đổi, bổ sung Quy định số 169-QĐ/TW, ngày 24/6/2008 của Ban Bí thư về chế độ phụ cấp trách nhiệm đối với cấp ủy viên các cấp. (iv) Báo cáo Bộ Chính trị về kết quả kiểm điểm, đánh giá, xếp loại chất lượng tập thể, cá nhân trong hệ thống chính trị năm 2025.
3. Kết luận số 231-KL/TW, ngày 08/01/2026 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 37-NQ/TW, ngày 09/10/2014 của Bộ Chính trị khóa XI về “Công tác lý luận và định hướng nghiên cứu đến năm 2030”
Trong đó, Bộ Chính trị yêu cầu tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 37-NQ/TW; đồng thời, tập trung làm tốt những nội dung sau:
Một là, các cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên nhận thức sâu sắc, đầy đủ, toàn diện về vai trò, nhiệm vụ đặc biệt quan trọng của công tác lý luận. Đổi mới mạnh mẽ tư duy, chuyển từ tư duy quản lý hành chính sang tư duy hành động hiệu quả, phục vụ, kiến tạo phát triển. Đề cao trách nhiệm của các cấp ủy, tổ chức đảng, nhất là người đứng đầu trong lãnh đạo, chỉ đạo, bảo đảm triển khai đồng bộ, toàn diện các nội dung, nhiệm vụ của công tác lý luận, từ tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận đến định hướng chiến lược, hoạch định chính sách, tổ chức thực hiện; rút ngắn thời gian thể chế hóa, cụ thể hóa nghị quyết, kịp thời đề ra chương trình hành động cụ thể, thiết thực, khả thi; tổ chức thực hiện khẩn trương, quyết liệt.
Hai là, tập trung hoàn thiện hệ thống lý luận, làm rõ những vấn đề cấp thiết, chiến lược, trọng yếu, cốt lõi; tăng cường nghiên cứu liên ngành, lĩnh vực, địa bàn; đến năm 2030 đạt 03 mục tiêu để thúc đẩy chỉ đạo thực tiễn: (1) Tổng kết 100 năm Đảng lãnh đạo cách mạng Việt Nam (1930-2030). (2) Xây dựng Cương lĩnh phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc trong kỷ nguyên phát triển mới trên cơ sở tổng kết 40 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (1991-2031). (3) Hoàn thiện cơ bản hệ thống lý luận về đường lối đổi mới phục vụ hoạch định và thực hiện các chủ trương lớn đáp ứng 02 mục tiêu 100 năm, bảo đảm giữ vững ổn định, phát triển nhanh, bền vững đất nước, nâng cao đời sống và hạnh phúc của Nhân dân.
Ba là, coi trọng đổi mới công tác nghiên cứu, học tập, quán triệt, phổ biến lý luận, xây dựng chương trình hành động bảo đảm sát thực tiễn, khả thi, hiệu quả, kịp thời đưa lý luận vào cuộc sống; quy định cụ thể trách nhiệm của các cấp ủy, tổ chức đảng và người đứng đầu; tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc thục hiện. Tập trung đổi mới nội dung, chương trình giáo dục lý luận chính trị trên cơ sở Nghị quyết số 71-NQTW, ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo, bảo đảm hiện đại, ngang tầm khu vực và thế giới; bảo đảm đúng chức năng của hệ thống trường Đảng và hệ thống giáo dục quốc dân, phù hợp với từng đối tượng, lĩnh vực đào tạo, tăng tính liên thông. Đẩy mạnh tuyên truyền lý luận gắn với học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, các phong trào thi đua yêu nước, nâng cao tư duy, nhận thức, bản lĩnh chính trị, năng lực hành động cho cán bộ, đảng viên, Nhân dân, tạo sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng, đồng thuận trong xã hội.
Bốn là, tiếp tục đẩy mạnh nghiên cứu, bổ sung, hoàn thiện công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên mặt trận tư tưởng, lý luận, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Chủ động điều tra, nắm bắt, dự báo sớm tình hình, xu hướng, cung cấp luận cứ khoa học, có tính chiến đấu cao để kịp thời định hướng, dẫn dắt dư luận xã hội tích cực; kiểm soát, mở rộng phạm vi, nội dung, hình thức đấu tranh trên không gian mạng; tăng cường đối thoại, thuyết phục, cảm hóa, đồng thời kiên trì, kiên quyết đấu tranh với những quan điểm lệch lạc, sai trái, phòng, chống âm mưu “diễn biến hoà bình”.
Năm là, tiếp tục đổi mới, kiện toàn tổ chức bộ máy các cơ quan nghiên cứu lý luận. Phát huy vai trò định hướng công tác lý luận của Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương; vai trò tư vấn của Hội đồng Lý luận Trung ương; vai trò nghiên cứu lý luận của các cơ quan, viện, học viện, trường đại học, cơ quan nghiên cứu của các ban, bộ, ngành, địa phương. Tăng cường phối hợp giữa cơ quan nghiên cứu và cơ quan tham mưu hoạch định chính sách; tăng cường hợp tác, chia sẻ thông tin, kết quả nghiên cứu giữa các cơ quan, đơn vị nghiên cứu. Xây dựng chiến lược phát triển đội ngũ cán bộ lý luận trình độ cao, chuyên gia đầu ngành; ban hành cơ chế đặc thù, vượt trội để thu hút cán bộ giỏi, cán bộ trẻ có triển vọng, hình thành lực lượng nghiên cứu lớn mạnh, tinh nhuệ, sắc bén.
Sáu là, tăng cường mở rộng, đa dạng hóa các hoạt động trao đổi lý luận với đảng cộng sản các nước, nhất là các đảng cộng sản các nước anh em; đối thọại chính sách với các đảng cộng sản ở các nước phát triển, các nước đối tác chiến lược, đối tác chiến luợc toàn diện, các tổ chức, quỹ nghiên cứu quốc tế. Đẩy mạnh hợp tác đào tạo, nghiên cứu lý luận. Tăng cường tuyên truyền, thông tin đối ngoại về đường lối đổi mới của Đảng Cộng sản Việt Nam, thành quả lý luận của Đảng, thành tựu đổi mới của đất nước.
4. Chỉ thị số 58-CT/TW, ngày 10/01/2026 của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị, tư tưởng, pháp luật cho công nhân trong tình hình mới
Trong đó, Ban Bí thư yêu cầu các cấp ủy, tổ chức đảng, các cơ quan, đơn vị, tổ chức trong toàn hệ thống chính trị tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, thực hiện hiệu quả các nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm sau đây:
Một là, các cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức công đoàn và tổ chức đại diện người sử dụng lao động cần nhận thức đầy đủ, sâu sắc tính cấp bách, lâu dài và tầm quan trọng của công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị, tư tưởng, pháp luật cho công nhân; coi đây là một bộ phận quan trọng của công tác chính trị, tư tưởng, là nhiệm vụ thường xuyên, lâu dài trong xây dựng giai cấp công nhân hiện đại, lớn mạnh đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước.
Công tác tuyên truyền, giáo dục tập trung trang bị cho công nhân những nội dung cơ bản về chính trị, tư tưởng Hồ Chí Minh; đường lối, quan điểm của Đảng; chính sách, pháp luật của Nhà nước; truyền thống yêu nước, khát vọng phát triển, tinh thần đoàn kết, ý chí tự chủ, tự lực, tự cường, tự hào dân tộc, qua đó nâng cao bản lĩnh chính trị, giác ngộ giai cấp, ý thức chấp hành pháp luật, tác phong công nghiệp và văn hóa công nhân; đồng thời, củng cố niềm tin của công nhân vào sự lãnh đạo của Đảng, bồi dưỡng lòng yêu nước, trách nhiệm công dân, nâng cao khả năng nhận diện các quan điểm sai trái, thù địch, các hành vi lợi dụng, kích động, gây mất ổn định quan hệ lao động và trật tự xã hội.
Hai là, tiếp tục rà soát, hoàn thiện pháp luật về lao động, công đoàn và các chính sách liên quan đến công nhân nhằm bảo đảm quyền được học tập, tiếp cận thông tin chính trị, kinh tế, văn hóa, pháp luật. Công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật gắn với nhiệm vụ bảo vệ quyền lợi của công nhân như: Tiền lương, thời giờ làm việc, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, an toàn, vệ sinh lao động và đối thoại tại nơi làm việc. Tăng cường các giải pháp tập hợp, đoàn kết công nhân; triển khai đồng bộ các chính sách chăm lo, bảo đảm quyền lợi chính đáng, cải thiện điều kiện làm việc, thiết chế văn hóa và phúc lợi xã hội, tạo nền tảng để công nhân hưởng ứng tham gia các hoạt động tuyên truyền, giáo dục.
Ba là, phát huy vai trò, sự phối hợp của các cấp chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức đại diện người sử dụng lao động, người sử dụng lao động, cơ quan báo chí trong công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị, tư tưởng, pháp luật cho công nhân; trong đó, tổ chức công đoàn giữ vai trò nòng cốt, trực tiếp tổ chức triển khai thực hiện tại cơ sở. Cấp ủy các cấp, nhất là cấp ủy tại doanh nghiệp tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo, định hướng nội dung, tạo điều kiện về tổ chức và nguồn lực cho tổ chức công đoàn triển khai hiệu quả. Nâng cao trách nhiệm của mỗi đảng viên, đoàn viên công đoàn với vai trò là tuyên truyền viên trong công tác tuyên truyền, vận động công nhân; chủ động nắm bắt tình hình tư tưởng, tâm tư, nguyện vọng của công nhân để kịp thời định hướng, tuyên truyền, giáo dục.
Bốn là, coi giáo dục chính trị, tư tưởng là cơ sở; giáo dục pháp luật, văn hóa ứng xử và tác phong công nghiệp là cơ bản; chú trọng giáo dục nghĩa vụ công dân, trách nhiệm với đồng nghiệp, với tổ chức công đoàn, doanh nghiệp và xã hội; khơi dậy tinh thần tự giác, kỷ luật lao động, gắn lợi ích của công nhân với sự phát triển bền vững của doanh nghiệp và đất nước. Ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo trong xây dựng, cập nhật thường xuyên nội dung các sản phẩm tuyên truyền, giáo dục sáng tạo, có tính tương tác cao, lan tỏa rộng, ngắn gọn, trực quan, dễ tiếp cận, gắn với diễn biến thực tiễn quan hệ lao động và yêu cầu nhiệm vụ chính trị từng thời kỳ. Kết hợp linh hoạt truyền thống và hiện đại, đa dạng hóa phương thức, hình thức tuyên truyền, giáo dục bảo đảm tính thiết thực, thuyết phục và phù hợp với nhận thức, điều kiện làm việc, điều kiện sống, nhu cầu, thói quen của từng đối tượng công nhân.
Năm là, quan tâm củng cố, kiện toàn, đào tạo, bồi dưỡng, hướng dẫn và có cơ chế, chính sách đãi ngộ, động viên, phát huy vai trò đội ngũ cán bộ, báo cáo viên, tuyên truyền viên, cộng tác viên làm công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị, tư tưởng, pháp luật cho công nhân; lựa chọn, bồi dưỡng đội ngũ cộng tác viên, công nhân nòng cốt tại cơ sở, nhất là các khu công nghiệp, khu chế xuất, doanh nghiệp ngoài khu vực nhà nước trở thành lực lượng trực tiếp tuyên truyền, vận động và kịp thời nắm bắt tình hình trong công nhân ngay tại cơ sở.
5. Nghị định số 374/2025/NĐ-CP ngày 31/12/2025 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Việc làm về bảo hiểm thất nghiệp
Nghị định gồm 46 điều, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026. Một số nội dung chủ yếu của Nghị định:
- 6 trường hợp được xác định là đang đóng bảo hiểm thất nghiệp (BHTN): Theo Nghị định, người lao động được xác định là đang đóng BHTN theo quy định tại Điều 36 và Điều 38 Luật Việc làm khi thuộc một trong các trường hợp sau:
1. Người lao động đã đóng BHTN của tháng chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc hoặc chấm dứt làm việc theo quy định của pháp luật và được cơ quan bảo hiểm xã hội (BHXH) xác nhận trên sổ BHXH.
2. Người lao động đã đóng BHTN của tháng liền kề trước tháng chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc hoặc chấm dứt làm việc và được cơ quan BHXH xác nhận trên sổ BHXH.
3. Người lao động có tháng liền kề trước tháng chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc, chấm dứt làm việc hoặc tháng chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc, chấm dứt làm việc mà nghỉ việc do ốm đau, thai sản từ 14 ngày làm việc trở lên trong tháng, không hưởng tiền lương tháng tại đơn vị và được cơ quan BHXH xác nhận trên sổ BHXH.
4. Người lao động có tháng liền kề trước tháng chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc, chấm dứt làm việc hoặc tháng chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc, chấm dứt làm việc mà nghỉ việc không hưởng lương từ 14 ngày làm việc trở lên trong tháng tại đơn vị và được cơ quan BHXH xác nhận trên sổ BHXH.
5. Người lao động có tháng liền kề trước tháng chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc, chấm dứt làm việc hoặc tháng chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc, chấm dứt làm việc mà tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc từ 14 ngày làm việc trở lên trong tháng tại đơn vị và được cơ quan BHXH xác nhận trên sổ BHXH.
6. Người lao động nghỉ việc tại đơn vị sử dụng lao động không còn khả năng đóng BHTN cho người lao động quy định tại khoản 2 Điều 26 Nghị định số 158/2025/NĐ-CP ngày 25/6/2025 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật BHXH về BHXH bắt buộc.
- Giảm tiền đóng vào Quỹ BHTN đối với người sử dụng lao động khi sử dụng người lao động là người khuyết tật
Nghị định nêu rõ, người sử dụng lao động khi tuyển dụng mới và sử dụng người lao động là người khuyết tật thì được giảm mức đóng BHTN từ 1% xuống 0% tiền đóng BHTN thuộc trách nhiệm của người sử dụng lao động phải đóng cho người lao động là người khuyết tật trong thời gian người lao động làm việc nhưng thời gian hỗ trợ không quá 12 tháng đầu kể từ khi tuyển mới người lao động khuyết tật.
Người sử dụng lao động đăng ký tham gia BHTN đối với người lao động là người khuyết tật với cơ quan BHXH để được thực hiện giảm đóng theo quy định trên và kèm theo bản sao giấy xác nhận khuyết tật của từng người lao động.
- Mức và tháng hưởng trợ cấp thất nghiệp
Nghị định quy định mức hưởng trợ cấp thất nghiệp hằng tháng của người lao động được xác định như sau:
Mức hưởng trợ cấp thất nghiệp hằng tháng = Mức lương bình quân của 6 tháng liền kề có đóng bảo hiểm thất nghiệp trước khi thất nghiệp x 60%. Trường hợp những tháng cuối cùng trước khi thất nghiệp, người lao động có thời gian gián đoạn đóng BHTN thì 6 tháng liền kề để tính mức hưởng trợ cấp thất nghiệp là bình quân tiền lương của 6 tháng đóng BHTN trước khi người lao động chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc hoặc chấm dứt làm việc theo quy định của pháp luật.
Mức hưởng trợ cấp thất nghiệp hằng tháng của người lao động tối đa không quá 5 lần mức lương tối thiểu vùng đã đóng BHTN theo quy định của Bộ luật Lao động tại thời điểm chấm dứt hợp đồng lao động.
Tháng hưởng trợ cấp thất nghiệp được tính theo tháng dương lịch. Mỗi tháng hưởng trợ cấp thất nghiệp được tính từ ngày người lao động bắt đầu hưởng trợ cấp thất nghiệp đến ngày đó của tháng sau trừ 01 ngày, trường hợp tháng sau không có ngày tương ứng thì ngày kết thúc của tháng hưởng trợ cấp thất nghiệp là ngày cuối cùng của tháng đó.
- Chi trả trợ cấp thất nghiệp trong 5 ngày
Cơ quan BHXH thực hiện chi trả trợ cấp thất nghiệp cho người lao động trong thời hạn 5 ngày làm việc kể từ ngày người lao động hết thời hạn nhận quyết định về việc hưởng trợ cấp thất nghiệp hoặc hết thời hạn thông báo về việc tìm kiếm việc làm hằng ngày.
Ngoài ra, Nghị định còn quy định nhiều nội dung quan trọng khác.
6. Chỉ thị số 01-CT/TU, ngày 24/12/2025 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thi hành án dân sự, thi hành án hành chính trên địa bàn tỉnh
Chỉ thị nêu rõ: Để tiếp tục nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác thi hành án dân sự, thi hành án hành chính, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới, Ban Thường vụ Tỉnh ủy yêu cầu:
Một là, các cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị, địa phương: Tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo phát huy vai trò, trách nhiệm người đứng đầu trong việc tổ chức, kiểm tra, đôn đốc và chịu trách nhiệm toàn diện về kết quả thực hiện công tác thi hành án dân sự, thi hành án hành chính tại cơ quan, đơn vị, địa phương được giao quản lý, phụ trách. Người đứng đầu cấp ủy, chính quyền, cơ quan, đơn vị chủ động nắm tình hình, kịp thời chỉ đạo giải quyết dứt điểm các vụ việc phức tạp, kéo dài, nhất là các đơn, thư khiếu nại, tố cáo liên quan đến thi hành quyết định, bản án hành chính; gắn công tác thi hành án với việc thực hiện nhiệm vụ chính trị ở địa phương. Đồng thời, đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, nâng cao nhận thức và trách nhiệm của cán bộ, đảng viên và Nhân dân, bảo đảm chấp hành nghiêm các quy định của pháp luật về thi hành án dân sự, thi hành án hành chính.
Tăng cường và nâng cao hiệu quả phối hợp giữa các cơ quan có liên quan trong công tác thi hành án, nhất là các cơ quan tố tụng; tổ chức thi hành nghiêm các bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật; kịp thời tổng hợp, kiến nghị, đề xuất hoàn thiện cơ chế, chính sách, quy định pháp luật liên quan đến công tác thi hành án; quan tâm kiểm tra, giám sát việc chấp hành pháp luật trong thi hành án hành chính; kiên quyết xử lý nghiêm trách nhiệm tập thể, cá nhân, nhất là người đứng đầu cơ quan, đơn vị có hành vi chậm thi hành, không thi hành hoặc thi hành không đầy đủ bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật.
Cấp ủy các xã, phường, đặc khu quan tâm lãnh đạo, kiểm tra, giám sát công tác thi hành án tại địa phương; giải quyết dứt điểm các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật nhưng chưa được thi hành, không để tồn đọng; chỉ đạo tăng cường vai trò, trách nhiệm phối hợp trong công tác thi hành án, nhất là đối với các vụ, việc có khó khăn, vướng mắc, phức tạp, kéo dài.
Hai là, Đảng ủy Các cơ quan Đảng tỉnh, lãnh đạo, chỉ đạo:
Đảng ủy Cơ quan Đoàn Đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân tỉnh lãnh đạo nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác giám sát đối với hoạt động thi hành án dân sự, thi hành án hành chính, nhất là những vụ việc khó khăn, vướng mắc, phức tạp, kéo dài, dư luận xã hội quan tâm. Kịp thời phát hiện, kiến nghị hoàn thiện cơ chế, chính sách, pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả công tác thi hành án và chất lượng hoạt động giám sát của cơ quan dân cử đối với công tác này.
Đảng ủy Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh lãnh đạo phát huy vai trò giám sát và phản biện xã hội, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác giám sát đối với hoạt động thi hành án; kip thời kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xem xét, xử lý những khó khăn, vướng mắc, vi phạm phát sinh trong quá trình tổ chức thi hành án; gắn với tăng cường công tác tuyên truyền, vận động cán bộ, đảng viên, hội viên và Nhân dân, nhất là người phải thi hành án, tự giác chấp hành các quy định của pháp luật, bảo đảm các bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật được thi hành kịp thời, nghiêm minh, đúng quy định.
Đảng ủy Tòa án nhân dân tỉnh tập trung lãnh đạo nâng cao chất lượng công tác xét xử, hạn chế tối đa tình trạng bản án, quyết định tuyên không rõ, khó thi hành hoặc bị hủy, sửa do lỗi chủ quan của thẩm phán; xem xét, giải quyết kịp thời các kiến nghị, kháng nghị, yêu cầu, đính chính, giải thích đối với các bản án, quyết định của Tòa án. Đẩy mạnh công tác hòa giải, đối thoại trong giải quyết các vụ việc dân sự, hành chính, nâng cao tỷ lệ hòa giải, đối thoại thành; phối hợp chặt chẽ với cơ quan quản lý đất đai, cơ quan hành chính nhà nước và các tổ chức, cá nhân có liên quan trong quá trình xét xử, thi hành án dân sự, thi hành án hành chính, góp phần giảm áp lực cho công tác thi hành án, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, công dân và tính thống nhất, nghiêm minh của pháp luật.
Đảng ủy Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh lãnh đạo thực hiện nghiêm nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định khi kiểm sát thi hành dân sự, thi hành án hành chính; kịp thời phát hiện các vi phạm pháp luật trong quá trình thi hành án và kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý nghiêm, nhất là đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân có nghĩa vụ thi hành án nhưng chậm thi hành, không thi hành hoặc thi hành không đúng nội dung bản án, quyết định của Tòa án; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, tổ chức, cá nhân trong thi hành án.
Ba là, Đảng ủy Ủy ban nhân dân tỉnh, lãnh đạo, chỉ đạo:
Tăng cường quán triệt, triển khai thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả các chỉ thị, nghị quyết của Đảng, pháp luật của Nhà nước về công tác thi hành án dân sự, thi hành án hành chính, trọng tâm là Luật Thi hành án dân sự, Luật Tố tụng hành chính và các văn bản hướng dẫn thi hành; Nghị định số 71/20/16/NÐ-CP, ngày 01/7/2016 của Chính phủ quy định thời hạn, trình tự, thủ tục thi hành án hành chính và xử lý trách nhiệm đối với người phải thi hành án không thi hành bản án, quyết định của Tòa án; Chỉ thị số 05/CT-TTg, ngày 06/02/2017 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường công tác thi hành án dân sự và Chỉ thị số 26/CT-TTg, ngày 15/11/2019 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường chấp hành pháp luật tố tụng hành chính và thi hành án hành chính. Tuyên truyền, phổ biến pháp luật về thi hành án dân sự, thi hành án hành chính để các cấp, các ngành, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và Nhân dân nhận thức đúng đắn, đầy đủ về công tác thi hành án dân sự, thi hành án hành chính.
Kịp thời củng cố, kiện toàn và nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của Ban Chỉ đạo thi hành án dân sự tỉnh; thực hiện đồng bộ các giải pháp đổi mới, nâng cao chất lượng công tác thi hành án dân sự, thi hành án hành chính, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới; tập trung giải quyết dứt điểm các vụ việc phức tạp, bức xúc, kéo dài liên quan đến thi hành án, nhất là trên địa bàn đặc khu Phú Quốc; xử lý nghiêm tổ chức, cá nhân thiếu trách nhiệm, tiêu cực, tham nhũng, sai phạm trong thi hành án.
Bốn là, Đảng ủy Công an tỉnh lãnh đạo Công an tỉnh chỉ đạo các cơ quan, đơn vị trực thuộc tích cực xác minh, làm rõ tài sản có liên quan trong quá trình khởi tố, điều tra giải quyết các vụ việc, vụ án; kịp thời áp dụng các biện pháp ngăn chặn việc tẩu tán tài sản, nhất là đối với các vụ án về kinh tế, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; phối hợp hỗ trợ thực hiện tốt công tác cưỡng chế thi hành án; xử lý kịp thời các hành vi cản trở, chống đối việc thi hành án; tăng cường công tác vận động, thuyết phục bị can, bị cáo, phạm nhân và người có nghĩa vụ liên quan tự nguyện khắc phục hậu quả do hành vi vi phạm pháp luật gây ra.
Năm là, Ban Tuyên giáo và Dân vận Tinh ủy định hướng, chỉ đạo tăng cường tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, nâng cao nhận thức, ý thức trách nhiệm và nghĩa vụ của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, Nhân dân trong chấp hành và thực hiện pháp luật về thi hành án dân sự, thi hành án hành chính.
Sáu là, ủy ban kiểm tra các cấp chủ trì, phối hợp tham mưu cấp ủy hoặc chủ động xây dựng và triển khai thực hiện kế hoạch kiểm tra, giám sát về công tác thi hành án theo chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được giao; kịp thời phát hiện, xử lý nghiêm tổ chức đảng, đảng viên vi phạm, nhất là đối với những hành vi thiếu trách nhiệm, lợi dụng, lạm dụng chức vụ, quyền hạn, tham nhũng, tiêu cực trong hoạt động thi hành án.
Bảy là, Ban Nội chính Tỉnh ủy chủ trì, phối hợp với Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy và các cơ quan liên quan theo dõi, đôn đốc, kiểm tra, giám sát việc triển khai thực hiện Chỉ thị này; định kỳ tổng hợp, báo cáo kết quả với Thường trực, Ban Thường vụ Tỉnh ủy.
7. Chỉ thị số 02-CT/TU, ngày 30/12/2025 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về tiếp tục triển khai Chỉ thị số 39-CT/TW, ngày 30/10/2024 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về nâng cao hiệu quả của tín dụng chính sách xã hội trong giai đoạn mới
Trong đó, Ban Thường vụ Tỉnh ủy yêu cầu các cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội các cấp trong tỉnh quán triệt, thực hiện nghiêm túc, hiệu quả các nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu sau:
(1) Tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức; nâng cao vai trò của các cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội đối với tín dụng chính sách xã hội
(2) Rà soát, đề xuất sửa đổi, bổ sung hoàn thiện cơ chế, chính sách về tín dụng chính sách xã hội
(3) Ưu tiên tập trung nguồn lực, đa dạng hóa các kênh huy động vốn để thực hiện các chương trình tín dụng chính sách xã hội, đảm bảo nguồn vốn hoạt động được bố trí trong kế hoạch đầu tư công trung hạn và hằng năm ủy thác qua Chi nhánh NHCSXH tỉnh
(4) Tiếp tục duy trì mô hình tổ chức và phương thức quản lý tín dụng chính sách xã hội đặc thù của NHCSXH
Trong đó, các đảng ủy trực thuộc Tỉnh ủy theo chức năng, nhiệm vụ tập trung lãnh đạo, chỉ đạo triển khai quán triệt Chỉ thị số 39-CT/TW và Chỉ thị này của Ban Thường vụ Tỉnh ủy; xây dựng văn bản cụ thể hóa thực hiện phù hợp với tình hình của địa phương, đơn vị.
Đảng ủy Đoàn Đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân tỉnh lãnh đạo Hội đồng nhân dân tỉnh tiếp tục rà soát, sửa đổi, bổ sung hoặc đề xuất cấp có thẩm quyền hoàn thiện các cơ chế, chính sách có liên quan đến tín dụng chính sách xã hội trên địa bàn tỉnh; bố trí vốn đầu tư công trung hạn và hằng năm để tăng cường nguồn lực thực hiện các chương trình tín dụng chính sách xã hội; đồng thời, tăng cường giám sát việc tổ chức thực hiện.
Đảng ủy Ủy ban nhân dân tỉnh lãnh đạo Ủy ban nhân dân tỉnh căn cứ Chỉ thị số 39-CT/TW và Chỉ thị của Ban Thường vụ Tỉnh ủy xây dựng kế hoạch cụ thể hóa thực hiện; phân công rõ trách nhiệm địa phương, cơ quan, đơn vị liên quan triển khai thực hiện phù hợp, hiệu quả; tăng cường chỉ đạo nâng cao chất lượng công tác tín dụng chính sách xã hội; thường xuyên kiểm tra, đôn đốc, giám sát việc thực hiện.
Ban Tuyên giáo và Dân vận Tỉnh ủy chủ trì, tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền, định hướng thông tin chính xác, nhất quán về tín dụng chính sách xã hội; kịp thời biểu dương, nhân rộng mô hình hiệu quả, gương điển hình tiên tiến; đồng thời phê phán, chấn chỉnh những biểu hiện hình thức, thiếu trách nhiệm trong triển khai thực hiện. Tăng cường tuyên truyền thông qua nền tảng số, mạng xã hội chính thống và hệ thống truyền thông cơ sở, bảo đảm lan tỏa sâu rộng chính sách tín dụng ưu đãi đến mọi đối tượng thụ hưởng.
Đảng ủy Ủy ban Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội tỉnh theo chức năng nhiệm vụ đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến, vận động đoàn viên, hội viên, các tầng lớp nhân dân tích cực tham gia công tác tín dụng chính sách xã hội; phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội.
Giao Đảng ủy Ủy ban nhân dân tỉnh chủ trì, phối hợp với Văn phòng Tỉnh ủy và cơ quan liên quan tham mưu Ban Thường vụ Tỉnh ủy theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện; định kỳ sơ, tổng kết, hằng năm báo cáo tình hình thực hiện Chỉ thị số 39-CT/TW và Chỉ thị này cho Ban Thường vụ Tỉnh ủy trước ngày 20/10.
8. Chỉ thị số 03-CT/TU, ngày 13/01/2026 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về việc tổ chức Tết Bính Ngọ năm 2026
Chỉ thị nêu rõ: Để chuẩn bị tốt các điều kiện phục vụ Nhân dân vui Xuân, đón Tết cổ truyền Bính Ngọ năm 2026, tạo khí thế phấn khởi và động lực cho toàn Đảng bộ, Chính quyền, Nhân dân các dân tộc trên địa bàn tỉnh phấn đấu thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ năm 2026 và của cả nhiệm kỳ 2025-2030 ngay từ những tháng đầu năm, Ban Thường vụ Tỉnh ủy yêu cầu các cấp ủy Đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội trong tỉnh tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện hiệu quả các nhiệm vụ trọng tâm sau:
Một là, quán triệt, triển khai thực hiện nghiêm Chỉ thị số 55-CT/TW, ngày 22/12/2025 của Ban Bí thư Trung ương Đảng, Chỉ thị số 36/CT-TTg, ngày 31/12/2025 của Thủ tướng Chính phủ và các văn bản chỉ đạo của Trung ương, của tỉnh về tổ chức Tết Nguyên đán Bính Ngọ năm 2026. Chủ động xây dựng, triển khai kế hoạch tổ chức các hoạt động trước, trong và sau Tết phù hợp với tình hình thực tiễn của từng địa phương, cơ quan, đơn vị; bảo đảm phương châm “vui tươi, an toàn, lành mạnh, tiết kiệm, tránh phô trương, hình thức”, gắn với giữ vững kỷ luật, kỷ cương hành chính, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý Nhà nước và trách nhiệm phục vụ Nhân dân.
Hai là, tiếp tục giữ vững, tăng cường đoàn kết, thống nhất trong Đảng bộ, đồng thuận trong xã hội; phát huy mạnh mẽ truyền thống nhân ái, nghĩa tình của dân tộc và quê hương An Giang. Tập trung lãnh đạo, chỉ đạo đẩy nhanh tiến độ các dự án nhà ở xã hội; tiếp tục rà soát, hỗ trợ sửa chữa, xây dựng nhà ở cho các hộ gia đình khó khăn. Huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực xã hội để chăm lo Tết cho người nghèo, người có hoàn cảnh khó khăn, người yếu thế, gia đình chính sách, người có công với cách mạng, công nhân, người lao động bị mất việc làm, người cao tuổi neo đơn, trẻ em mồ côi, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo; bảo đảm mọi người dân đều được đón Tết an toàn, đầm ấm, không ai không có Tết.
Các cơ quan, đơn vị, địa phương, doanh nghiệp chuẩn bị tốt các điều kiện để chi trả kịp thời lương, thưởng Tết cho người lao động; tổ chức tốt việc thăm hỏi, động viên, chúc Tết cán bộ lão thành cách mạng, Mẹ Việt Nam Anh hùng, thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ, gia đình có công với cách mạng, nhân sĩ, trí thức, văn nghệ sĩ, người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số, chức sắc tôn giáo tiêu biểu, các đơn vị lực lượng vũ trang và lực lượng thường trực làm nhiệm vụ trong dịp Tết tại các địa bàn trọng điểm, biên giới, hải đảo, vùng đặc biệt khó khăn.
Ba là, thực hiện nghiêm kỷ luật, kỷ cương; tăng cường công tác phòng, chống lãng phí, tiêu cực; chấp hành thực hiện nghiêm quy định về chuẩn mực đạo đức cách mạng, về văn hóa công vụ; trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên trong thực hiện nếp sống văn minh, những điều đảng viên không được làm, nhất là quy định về không điều khiển phương tiện giao thông khi đã sử dụng rượu, bia; không tham gia, cố xúy cho các hoạt động mê tín dị đoan, tệ nạn xã hội; không sử dụng ngân sách nhà nước, phương tiện, tài sản công trái quy định cho hoạt động lễ hội, vui chơi; không sử dụng thời gian trong ngày làm việc để đi du xuân, lễ hội, đền, chùa... Tăng cường kiểm tra, giám sát, xử lý nghiêm tổ chức, cá nhân vi phạm các quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước trong dịp Tết, nhất là về lãng phí, tiêu cực. Không tổ chức thăm, chúc Tết cấp trên và lãnh đạo các cấp; nghiêm cấm việc dùng công quỹ biếu, tặng quà Tết cho lãnh đạo các cấp với mọi hình thức.
Bốn là, Ban Thường vụ Đảng ủy Ủy ban nhân dân tỉnh lãnh đạo Ủy ban nhân dân tỉnh chỉ đạo:
Tổ chức và quản lý tốt các hoạt động văn hóa, kỷ niệm ngày truyền thống, gặp mặt đầu năm, lễ hội, vui Xuân cho Nhân dân; bảo đảm thiết thực, văn minh, tiết kiệm, phù hợp với thuần phong, mỹ tục, truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc và điều kiện thực tiễn của từng địa phương. Quan tâm tổ chức các không gian văn hóa cộng đồng, nhất là ở khu vực nông thôn, hải đảo, khu vực biên giới, tạo điều kiện để Nhân dân tham gia và hưởng thụ văn hóa. Tổ chức bắn pháo hoa đón giao thừa Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026 phù hợp với khả năng, điều kiện, tình hình thực tế của tỉnh và từng địa phương, bảo đảm an toàn, tiết kiệm.
Tăng cường kiểm tra, giám sát, quản lý chặt chẽ thị trường, bảo đảm cân đối cung - cầu hàng hóa, ổn định giá cả, an toàn thực phẩm, vệ sinh môi trường, phòng, chống dịch bệnh; bảo đảm trật tự, an toàn giao thông, phòng, chống cháy, nổ; thực hiện nghiêm các quy định của pháp luật về quản lý, sử dụng pháo, không để xảy ra tình trạng vi phạm trong dịp Tết.
Triển khai thực hiện đồng bộ, hiệu quả các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng - an ninh và phát động phong trào thi đua năm 2026. Tập trung chỉ đạo triển khai kế hoạch sản xuất nông nghiệp, chủ động phòng, chống dịch bệnh cho cây trồng, vật nuôi; phát động và triển khai sâu rộng phong trào thi đua sản xuất, kinh doanh ngay từ đầu năm; đẩy mạnh triển khai thực hiện các dự án đầu tư theo kế hoạch, nhất là tập trung các dự án trọng điểm, quy mô lớn, dự án phục vụ hội nghị APEC 2027; duy trì và nâng cao chất lượng các hoạt động giáo dục - đào tạo, y tế, giải quyết việc làm, bảo đảm an sinh xã hội.
Năm là, các lực lượng công an, quân sự, biên phòng duy trì nghiêm chế độ trực chỉ huy, trực sẵn sàng chiến đấu; nắm chắc tình hình, chủ động phòng ngừa, phát hiện sớm, ngăn chặn, xử lý kịp thời, hiệu quả các tình huống phức tạp xảy ra, không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống, bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo, an ninh biên giới, trật tự, an toàn xã hội, an toàn trên không gian mạng.
Bảo vệ tuyệt đối an toàn các mục tiêu, công trình trọng điểm, các sự kiện chính trị, đối ngoại, văn hóa - xã hội tổ chức trên địa bàn tỉnh. Tăng cường phòng ngừa, đấu tranh, xử lý nghiêm các loại tội phạm, vi phạm pháp luật và tệ nạn xã hội. Tăng cường hướng dẫn, tuần tra, kiểm soát, bảo đảm trật tự, an toàn giao thông; phòng, chống cháy, nổ.
Sáu là, Ban Tuyên giáo và Dân vận Tỉnh ủy chủ trì, phối hợp các cơ quan, đơn vị liên quan lãnh đạo, định hướng công tác tuyên truyền sâu rộng các hoạt động mừng Xuân mới, mừng Đảng, mừng đất nước đổi mới; khẳng định cơ đồ, tiềm lực, vị thế, uy tín của đất nước sau 40 năm đổi mới, những thành tựu nổi bật của tỉnh An Giang; lan tỏa, khơi dậy mạnh mẽ tinh thần đoàn kết, ý chí tự chủ, tự tin, tự lực, tự cường và phương châm hành động “Một An Giang - Một tầm nhìn - Một ý chí - Một niềm tin thắng lợi”.
Chủ động định hướng thông tin, dẫn dắt dư luận tích cực; nâng cao tinh thần trách nhiệm, ý thức tự giác của Nhân dân trong thực hiện các quy định về xây dựng nếp sống văn hóa, an toàn giao thông, phòng, chống cháy nổ, an toàn thực phẩm, vệ sinh môi trường, phòng, chống dịch bệnh; chủ động đấu tranh phản bác các thông tin, quan điểm sai trái, xuyên tạc, làm thất bại mọi âm mưu phá hoại của các thế lực thù địch chống phá Đảng, Nhà nước và Nhân dân.
Bảy là, các cấp ủy đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội, cơ quan, đơn vị trong tỉnh tổ chức triển khai nghiêm túc, hiệu quả các công việc, không để ảnh hưởng đến chất lượng, tiến độ thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ năm 2026, nhất là công tác chuẩn bị bầu cử Quốc hội khóa XVI và hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026-2031.
Trong thời gian nghỉ Tết, bố trí đủ lực lượng, phương tiện trực, xử lý, giải quyết công việc kịp thời, thông suốt; thực hiện nghiêm chế độ thông tin, báo cáo; không để ách tắc, chậm trễ thủ tục hành chính của người dân, doanh nghiệp.
Ngay sau kỳ nghỉ Tết, các cơ quan, tổ chức, đơn vị tiếp tục tập trung triển khai đồng bộ các nhiệm vụ trọng tâm của năm 2026. Thực hiện quyết liệt, hiệu quả các nghị quyết, kết luận của Trung ương và của Tỉnh ủy về sắp xếp tổ chức bộ máy, vận hành chính quyền địa phương 2 cấp; các nghị quyết trọng tâm, đột phá của Bộ Chính trị: Về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia; về hội nhập quốc tế trong tình hình mới; về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật; về phát triển kinh tế tư nhân; về bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia; về phát triển giáo dục và đào tạo; về tăng cường bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe Nhân dân. Tăng tốc, bứt phá thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ kinh tế - xã hội năm 2026 và của cả nhiệm kỳ 2025-2030.
Tám là, giao Văn phòng Tỉnh ủy chủ trì, phối hợp với Ban Thường vụ Đảng Ủy ban nhân dân tỉnh, Ban Tuyên giáo và Dân vận Tỉnh ủy và các đơn vị liên quan theo dõi việc thực hiện Chỉ thị này, báo cáo kết quả với Ban Thường vụ Tỉnh ủy.
9. Kế hoạch số 21-KH/TU, ngày 16/01/2026 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về thực hiện Chỉ thị số 52-CT/TW, ngày 03/10/2025 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về thực hiện bảo hiểm y tế (BHYT) toàn dân trong giai đoạn mới
Kế hoạch đề ra các nhiệm vụ, giải pháp sau:
(1) Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy đảng, chính quyền về BHYT
(2) Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động
(3) Hoàn thiện cơ chế, chính sách và mở rộng đối tượng tham gia
(4) Nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh BHYT
(5) Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, sơ kết, tổng kết
(6) Bảo đảm nguồn lực; chuyển đổi số toàn diện công tác BHYT
Ban Thường vụ Tỉnh ủy yêu cầu:
Một là, các cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh và các tổ chức chính trị - xã hội tổ chức quán triệt, tuyên truyền, cụ thể hóa và triển khai thực hiện Chỉ thị số 52-CT/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng và Kế hoạch này của Ban Thường vụ Tỉnh ủy bằng hình thức phù hợp; định kỳ hằng năm sơ kết việc thực hiện (lồng ghép vào các báo cáo của cấp ủy, cơ quan, đơn vị).
Hai là, Đảng ủy Ủy ban nhân dân tỉnh lãnh đạo Ủy ban nhân dân tỉnh xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện Kế hoạch này của Ban Thường vụ Tỉnh ủy; chỉ đạo các sở, ngành, địa phương triển khai thực hiện, đưa chỉ tiêu tỷ lệ bao phủ BHYT vào kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội hằng năm. Chỉ đạo ngành chức năng tăng cường kiểm soát, giám sát chi phí khám, chữa bệnh BHYT, nâng cao chất lượng dịch vụ BHYT. Thường xuyên theo dõi, kiểm tra, đánh giá tình hình thực hiện, kịp thời điều chỉnh kế hoạch, đề ra giải pháp phù hợp với yêu cầu thực tế, bảo đảm thực hiện có hiệu quả công tác BHYT trong tình hình mới. Chủ trì, phối hợp với Ban Tuyên giáo và Dân vận Tỉnh ủy và các ngành liên quan theo dõi, kiểm tra việc triển khai thực hiện; định kỳ sơ kết, tổng kết và báo cáo Ban Thuờng vụ Tỉnh ủy về kết quả thực hiện.
Ba là, cơ quan Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy giám sát việc triển khai thực hiện Kế hoạch này, bao gồm cả cơ chế phối hợp thanh tra, kiểm tra và giám sát liên ngành.
Bốn là, Đảng ủy Cơ quan Đoàn đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân tỉnh lãnh đạo Hội đồng nhân dân tỉnh nghiên cứu, rà soát, hoàn thiện, cụ thể hóa các quy định, cơ chế, chính sách về BHYT; theo dõi, giám sát việc thực hiện.
Năm là, Ban Tuyên giáo và Dân vận Tỉnh ủy hướng dẫn các cấp ủy đảng triển khai, phổ biến, quán triệt thực hiện Chỉ thị số 52-CT/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng, gắn với Nghị quyết số 72-NQTW của Bộ Chính trị và các chỉ đạo của Tỉnh ủy, Ban Thường vụ Tỉnh ủy. Định hướng công tác tuyên truyền cho cơ quan thông tin, truyền thông, Báo và Phát thanh - Truyền hình tỉnh An Giang, đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên từ tỉnh đến xã, phường, đặc khu tích cực tuyên truyền về công tác BHYT, về công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe Nhân dân. Phối hợp cơ quan có liên quan đôn đốc, kiểm tra, sơ kết, tổng kết, định kỳ báo cáo kết quả thực hiện cho Ban Thường vụ Tỉnh ủy...
Ban Tuyên giáo và Dân vận Tỉnh ủy An Giang