1. Hướng tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng
Công tác chuẩn bị đại hội đảng bộ các cấp nhiệm kỳ 2025 - 2030 tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV đã và đang được tiến hành khẩn trương. Thời gian qua, công tác tuyên truyền đại hội đã bám sát yêu cầu, lộ trình, góp phần đắc lực phục vụ sự kiện chính trị trọng đại này, thể hiện ở một số kết quả sau:
Thực hiện chỉ đạo của Ban Tuyên giáo Trung ương (nay là Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương) tại Hướng dẫn số 176-HD/BTGTW, ngày 17/12/2024, Ban Tuyên giáo các tỉnh ủy, thành ủy đã ban hành các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn công tác thông tin, tuyên truyền đại hội. Công tác tuyên truyền về đại hội được chủ động triển khai tới cán bộ, đảng viên, lực lượng vũ trang và các tầng lớp nhân dân, góp phần tạo sự thống nhất về nhận thức, tư tưởng và hành động trong toàn đảng bộ, sự đồng thuận trong xã hội để tổ chức thành công đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội XIV của Đảng; xây dựng quyết tâm và sự đồng thuận khi triển khai nghị quyết đi vào cuộc sống.
Nội dung tuyên truyền tập trung vào ý nghĩa, tầm quan trọng của đại hội đảng; bối cảnh địa phương, đất nước diễn ra đại hội; những nội dung, nhiệm vụ trong các dự thảo văn kiện trình đại hội gắn với những chủ trương, quyết sách phát triển lớn của đất nước, nhất là các nghị quyết của Bộ Chính trị về phát triển 06 vùng chiến lược; những quyết sách mới, đột phá để đất nước tăng tốc bước vào kỷ nguyên mới (Thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội và nhiều địa phương khác).
Công tác chuẩn bị tổ chức đại hội đảng bộ các cấp được phản ánh khá toàn diện, từ các khâu chuẩn bị văn kiện, nhân sự, công tác tập huấn phục vụ đại hội… (Quảng Ngãi, Khánh Hòa, Long An, Đắk Lắc, Bình Thuận, Bình Dương, Bạc Liêu, Bình Định, Nghệ An, Đà Nẵng, Yên Bái, Lai Châu, Lạng Sơn, Thái Bình, Quảng Trị…). Hoạt động tiếp nhận ý kiến đóng góp của các tổ chức, cán bộ, đảng viên, nhân dân về dự thảo văn kiện được quan tâm phản ánh (Nam Định, Hòa Bình, Khánh Hòa, Long An, Tây Ninh, Hưng Yên, Tiền Giang…).
Công tác tuyên truyền đại hội đã bám sát các chủ đề lớn, trọng tâm theo nội dung Hướng dẫn số 168-HD/BTGTW, ngày 23/9/2024 và Kế hoạch số 560-KH/BTGTW, ngày 29/11/2024 của Ban Tuyên giáo Trung ương để tạo niềm tin mới, khí thế mới, phản ánh những kết quả đạt được của địa phương, đất nước sau 40 năm đổi mới; tuyên truyền về vai trò và sứ mệnh, trách nhiệm lịch sử của Đảng đưa đất nước vươn mình trong kỷ nguyên mới.
Kết quả triển khai Nghị quyết số 18-NQ/TW, ngày 25/10/2017 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XII “Một số vấn đề tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả”; các giải pháp, định hướng tăng tốc phát triển kinh tế - xã hội, tháo gỡ những điểm nghẽn, nút thắt, rào cản về thể chế, khơi thông mọi nguồn lực, đẩy lùi nguy cơ tụt hậu, bẫy thu nhập trung bình, kế hoạch tăng trưởng 2 con số, tinh thần đổi mới của đại hội, những chủ trương, định hướng lớn về phát triển đất nước… được lan tỏa, làm sâu sắc (Hà Nội, Thanh Hóa, Đồng Nai, Ninh Thuận, Quảng Ninh, Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Bắc Giang, Thái Bình, Bắc Cạn, Bắc Giang, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Lâm Đồng, Cần Thơ…).
Các bí thư cấp ủy, ban tuyên giáo, đội ngũ báo cáo viên, các cơ quan báo chí đi đầu trong công tác tuyên truyền về đại hội đảng, đặc biệt thường xuyên cập nhật và phân tích sâu sắc nội dung các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn, quy định, quy chế của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, các ban đảng Trung ương, cấp ủy, tổ chức đảng các cấp về công tác tổ chức đại hội; phát biểu chỉ đạo của các đồng chí lãnh đạo cấp cao của Đảng, nhất là đồng chí Tổng Bí thư tại các cuộc làm việc với các Tiểu ban Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng; chỉ đạo và hoạt động của các tiểu ban đại hội của bộ, ngành, địa phương…
Các hình thức tuyên truyền về đại hội được triển khai thiết thực, hiệu quả, sinh động. Nhiều hội nghị chuyên đề được tổ chức; nhiều chuyên trang, chuyên mục, ấn phẩm về đại hội đảng được mở. Diễn đàn trao đổi, thảo luận, đối thoại giữa lãnh đạo hoặc tổ chức đảng với các tầng lớp nhân dân về các nội dung trong dự thảo văn kiện được báo chí phản ánh, thu hút sự quan tâm của đông đảo các tầng lớp trong xã hội. Ứng dụng công nghệ thông tin, khoa học kỹ thuật được triển khai áp dụng rộng rãi, tạo được hiệu ứng lan tỏa cao.
2. Kỷ niệm 70 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của Hải quân nhân dân Việt Nam
Cách đây 70 năm, trước yêu cầu bức thiết của việc quản lý, bảo vệ vùng biển, đảo miền Bắc, chấp hành Nghị quyết của Tổng Quân uỷ, ngày 07/5/1955, Bộ Quốc phòng ban hành Nghị định thành lập Cục Phòng thủ bờ bể - tiền thân của Hải quân nhân dân Việt Nam ngày nay. Việc ra đời Cục Phòng thủ bờ bể là một tất yếu khách quan, có ý nghĩa rất quan trọng trong quá trình xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân; mở đầu cho thời kỳ xây dựng và phát triển của Quân chủng Hải quân, là lực lượng nòng cốt trong sự nghiệp quản lý, bảo vệ vùng biển, đảo, thềm lục địa của Tổ quốc.
Lịch sử xây dựng, chiến đấu, chiến thắng và trưởng thành của Hải quân nhân dân Việt Nam là lịch sử của những thành tích, chiến công, nổi bật là: Lập công oanh liệt, đánh đuổi tàu khu trục Ma-đốc ra khỏi vùng biển miền Bắc, bắn rơi máy bay, bắt sống giặc lái Mỹ, làm nên chiến thắng trận đầu của Hải quân nhân dân Việt Nam và quân dân miền Bắc (ngày 02 và 05/8/1964). Cùng quân dân cả nước anh dũng chiến đấu đánh thắng hai cuộc chiến tranh leo thang phá hoại miền Bắc bằng không quân và hải quân của đế quốc Mỹ. Làm nòng cốt phối hợp với các đơn vị, tổ chức rà phá hàng ngàn quả thủy lôi, bom từ trường của đế quốc Mỹ, phong tỏa sông, biển miền Bắc, mở tuyến, thông luồng để miền Bắc chi viện kịp thời cho tiền tuyến lớn miền Nam. Trên chiến trường sông biển, Hải quân đã sáng tạo ra cách đánh đặc công Hải quân độc đáo, táo bạo và hiệu quả, tổ chức trên 300 trận đánh, tiêu diệt 336 tàu thuyền của Mỹ - Ngụy. Mở đường vận chuyển chiến lược trên biển, con đường huyền thoại để chi viện cho chiến trường miền Nam đánh giặc - “Đường Hồ Chí Minh trên Biển Đông”, chuyên chở hàng trăm ngàn tấn vũ khí, hàng ngàn cán bộ, chiến sĩ chi viện đắc lực cho chiến trường miền Nam. Cùng quân dân cả nước tiến hành thắng lợi cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975; phối hợp với các lực lượng, thần tốc, táo bạo, chủ động tiến công giải phóng quần đảo Trường Sa, góp phần vào thắng lợi vĩ đại, trọn vẹn của dân tộc. Chiến đấu bảo vệ vững chắc chủ quyền vùng biển, đảo phía Tây Nam và giúp đất nước Campuchia thoát khỏi họa diệt chủng; hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ quốc tế cao cả ở Campuchia và Lào. Xây dựng Hải quân nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ làm nòng cốt quản lý, bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc.
Trải qua 70 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, các thế hệ cán bộ, chiến sĩ Hải quân bằng mồ hôi, công sức và cả xương máu của mình đã nối tiếp nhau xây đắp nên truyền thống vẻ vang: “Chiến đấu anh dũng; mưu trí sáng tạo; làm chủ vùng biển; quyết chiến, quyết thắng”. Hải quân nhân dân Việt Nam vinh dự hai lần được Đảng, Nhà nước tuyên dương danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân; được tặng thưởng 02 Huân chương Sao Vàng, 02 Huân chương Hồ Chí Minh, 02 Huân chương Độc lập (hạng Nhất và hạng Nhì), 03 Huân chương Quân công (01 hạng Nhất, 02 hạng Nhì), 04 Huân chương Bảo vệ Tổ quốc (02 hạng Nhất, 02 hạng Ba), 01 Huân chương Lao động hạng Ba; 01 Bằng khen, 01 Cờ thi đua của Chính phủ; 140 lượt tập thể, cá nhân được tuyên dương danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân và Anh hùng Lao động; hàng ngàn lượt tập thể, cá nhân của Quân chủng được tặng thưởng những phần thưởng cao quý.
3. Một số kết quả tuyển chọn và gọi công dân nhập ngũ năm 2025
Từ ngày 13 - 15/02/2025, các địa phương và đơn vị trong toàn quốc đã hoàn thành công tác giao nhận quân năm 2025. Qua tổng hợp báo cáo, công tác tuyển chọn và gọi công dân nhập ngũ năm 2025 được cấp ủy, chính quyền địa phương, cấp ủy, chỉ huy, chính ủy, chính trị viên cơ quan quân sự địa phương, đơn vị các cấp quán triệt, triển khai thực hiện nghiêm túc, tổ chức Lễ giao, nhận quân trang trọng, nhanh gọn, tiết kiệm; bàn giao quân số, hồ sơ đúng qui định, vận chuyển về các đơn vị an toàn tuyệt đối.
Các địa phương giao quân, đã tổ chức quán triệt nghiêm túc Luật, các nghị định, thông tư, chỉ thị, hướng dẫn của trên về công tác tuyển quân năm 2025; đề ra chủ trương, biện pháp lãnh đạo và triển khai thực hiện bảo đảm chặt chẽ, sát với yêu cầu, nhiệm vụ. Nắm vững chỉ tiêu được giao; thực hiện đầy đủ các khâu, các bước, bảo đảm đúng quy trình, công khai, dân chủ, công bằng, đúng pháp luật, bảo đảm đủ chỉ tiêu, chất lượng, thời gian giao nhận quân; gắn công tác tuyển quân với xây dựng lực lượng thường trực, xây dựng lực lượng dự bị động viên và tạo nguồn cán bộ cho địa phương, cơ sở. Lãnh đạo, chỉ đạo, phối hợp chặt chẽ với các cơ quan thông tấn, báo chí, phát thanh, truyền hình thực hiện tốt công tác tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức, trách nhiệm cho mọi tầng lớp nhân dân, nhất là thế hệ trẻ về nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, nhiều thanh niên viết đơn tình nguyện nhập ngũ.
Thực hiện tuyển “tròn khâu” với phương châm “tuyển người nào chắc người đó”; hạn chế thấp nhất bù đổi, loại trả sau giao nhận quân. Phối hợp, tạo điều kiện giúp các đơn vị được thâm nhập “ba gặp, bốn biết” và các đơn vị được giao chỉ tiêu tuyển chọn công dân nữ nhập ngũ thực hiện đúng quy định. Phối hợp, hiệp đồng chặt chẽ với các đơn vị nhận quân trong quá trình tuyển chọn, huấn luyện, phúc tra tiêu chuẩn chiến sĩ mới. Nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác kiểm tra, hướng dẫn, nắm chắc tình hình, chủ động phát hiện, ngăn ngừa và xử lý nghiêm những sai phạm trong tuyển quân; thông báo công khai rộng rãi để giáo dục, tạo sự đồng thuận trong Nhân dân. Kịp thời nắm bắt tâm tư nguyện vọng của công dân và gia đình có công dân được gọi nhập ngũ để tuyên truyền, động viên công dân thực hiện đúng quy định của pháp luật về nghĩa vụ quân sự không để xảy ra tình trạng đơn thư kiến nghị, khiếu nại vượt cấp. Quan tâm, chăm lo thực hiện tốt chính sách quân đội và hậu phương quân đội; động viên, thăm hỏi, tặng quà cho thanh niên lên đường nhập ngũ. Phối hợp chặt chẽ với các đơn vị nhận quân tổ chức Lễ giao, nhận quân đúng quy định, trang trọng, bảo đảm an toàn tuyệt đối, tạo ấn tượng tốt đẹp, thực sự ngày Lễ giao nhận quân là “Ngày Hội tòng quân” ở địa phương, gây ấn tượng tốt đẹp và mang ý nghĩa giáo dục cao.
Các đơn vị nhận quân, đã quán triệt sâu sắc các chỉ thị, quy định, hướng dẫn của trên về công tác tuyển quân năm 2025, kịp thời xác định các chủ trương, biện pháp lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ, hiệu quả. Thành lập khung tuyển quân, phân công, giao nhiệm vụ cụ thể, tổ chức tập huấn, bồi dưỡng, nâng cao nhận thức, trách nhiệm, phương pháp, kỹ năng, kinh nghiệm cho đội ngũ cán bộ tham gia tuyển quân. Phối hợp, hiệp đồng chặt chẽ với địa phương để xét duyệt chính trị, sức khỏe, chốt quân số, thực hiện 3 gặp, 4 biết theo quy định để tuyển, nhận quân đúng địa bàn, đủ số lượng, bảo đảm chất lượng, đúng tiêu chuẩn quy định; sau Lễ giao nhận quân, ký kết biên bản giao nhận quân chặt chẽ, đúng quy định, vận chuyển quân về đơn vị đúng thời gian, bảo đảm an toàn tuyệt đối; tổ chức đón nhận chu đáo và đảm bảo tốt mọi mặt về chế độ chính sách, đời sống vật chất, tinh thần và công tác phòng, chống dịch bệnh cho bộ đội ngay từ ngày đầu về đơn vị.
Kết quả giao nhận quân năm 2025 đạt 100% so với chỉ tiêu. Về tuổi đời, công dân nam từ 18 đến 21 đạt tỷ lệ cao nhất là 77,1%, tăng 16,97% so với năm 2024; đối với nữ, tuổi đời từ 22 đến 24 chiếm tỷ lệ cao nhất là 50,67%. Về sức khỏe, đối với nam sức khoẻ loại 1, 2 tăng 3,94% so với năm 2024; đối với nữ sức khỏe loại 1 chiếm 73%, tăng 52,67% so với năm 2024. Trình độ trung cấp, cao đẳng, đại học đối với nam đạt 13,6%, tăng 4,59% so với năm 2024; nữ chiếm 99,33%, tăng 1,03% so với năm 2024. Tỷ lệ đảng viên, nam chiếm 2,72%, tăng 0,27% so với năm 2024; nữ chiếm 12%, giảm 1,67% so với năm 2024. Đặc biệt số công dân tình nguyện viết đơn nhập ngũ của Nam chiếm 42,9%, tăng 20,02% so với năm 2024; nữ tình nguyện viết đơn nhập ngũ 100%.
Công tác huấn luyện chiến sĩ mới: Chuẩn bị tốt mọi mặt bảo đảm huấn luyện chiến sĩ mới. Chú trọng tổ chức, biên chế đủ khung huấn luyện; bảo đảm đầy đủ vũ khí, trang bị, quân cụ, cơ sở vật chất, mô hình học cụ, thao trường, bài tập theo đúng quy định tại Chỉ thị số 04/CT-TM, ngày 03/02/2021 của Tổng Tham mưu trưởng về việc tổ chức huấn luyện chiến sĩ mới. Thường xuyên duy trì thực hiện nghiêm nền nếp chính quy và kỷ luật Quân đội; tăng cường giáo dục chính trị, tuyên truyền phổ biến pháp luật, định hướng tư tưởng, nâng cao nhận thức trách nhiệm cho bộ đội. Chủ động kiểm tra, kịp thời phát hiện, ngăn ngừa và xử lý nghiêm những sai phạm trong tuyển quân đúng quy định của pháp luật.
4. Kết quả phát triển ứng dụng dữ liệu về dân cư, định danh và xác thực điện tử phục vụ chuyển đổi số quốc gia
Trong năm 2024, chuyển đổi số quốc gia, nhất là triển khai Đề án 06 về phát triển ứng dụng dữ liệu về dân cư, định danh và xác thực điện tử phục vụ chuyển đổi số quốc gia tiếp tục đạt nhiều bước tiến lớn, quan trọng, thể hiện qua một số kết quả sau:
Công tác lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành có kinh nghiệm hơn, lớp lang, bài bản hơn; việc tổ chức thực hiện được triển khai quyết liệt, đồng bộ với quyết tâm cao từ Trung ương đến cơ sở. Năm 2024, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ban hành 12 nghị quyết, 09 quyết định, 06 chỉ thị, 06 công điện. Tổ chức 06 hội nghị của Ủy ban Quốc gia về chuyển đổi số; 11 hội nghị trực tuyến toàn quốc về Đề án 06, bảo đảm thiết thực, hiệu quả, sau mỗi cuộc họp đều có thêm những kết quả, sản phẩm mới, thêm quyết tâm, thêm kinh nghiệm để làm. Hoàn thành 44/63 nhiệm vụ trong Kế hoạch hoạt động năm 2024 của Ủy ban. Hoàn thành và đang triển khai 244/276 nhiệm vụ năm 2024 của Đề án 06. Qua 03 năm triển khai Đề án 06 đã hoàn thành khối lượng công việc rất lớn - 346 nhiệm vụ.
Thể chế, cơ chế, chính sách liên quan đến chuyển đổi số tiếp tục được tập trung hoàn thiện. Trong năm 2024, Quốc hội đã ban hành Luật Dữ liệu; Chính phủ đã ban hành 14 nghị định. Các bộ đã ban hành theo thẩm quyền 33 thông tư. Đã đơn giản hóa 898/1.084 thủ tục hành chính được giao tại các nghị quyết của Chính phủ; trong đó năm 2024, đã đơn giản hóa 313 thủ tục. 63/63 địa phương đã ban hành Nghị quyết miễn giảm phí, lệ phí cho người dân, doanh nghiệp trong thực hiện thủ tục hành chính.
Kinh tế số, xã hội số tiếp tục có bước phát triển mạnh mẽ. Công nghiệp ICT có bước phát triển khá; theo Bộ Thông tin và Truyền thông, doanh thu năm 2024 đạt 152 tỷ USD, tăng 10,9%, trong đó công nghiệp bán dẫn có doanh thu 18,7 tỷ USD với 50 doanh nghiệp thiết kế vi mạch và 6.000 kỹ sư thiết kế. Doanh thu phần mềm và dịch vụ công nghệ thông tin tăng mạnh (năm 2024 đạt 18 tỷ USD, tăng 38,5%). Nhiều tập đoàn công nghệ hàng đầu thế giới đầu tư và mở rộng đầu tư tại Việt Nam (Marvell - thiết kế chip; NVIDIA - nghiên cứu phát triển; SK Hynix - sản xuất bộ nhớ).
Thương mại điện tử tiếp tục phát triển mạnh mẽ (năm 2024 đạt 28 tỷ USD, tăng 36%). Thanh toán không dùng tiền mặt được triển khai rộng khắp (tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm đạt 57%). Công tác mở rộng cơ sở thu, quản lý thuế, hóa đơn điện tử được triển khai một cách quyết liệt, hiệu quả, góp phần tăng thu ngân sách Nhà nước, bảo đảm cán cân tài chính quốc gia (năm 2024 đã xử lý 5,5 tỷ hóa đơn, tăng gần 40%); thu thuế từ hoạt động thương mại điện tử tăng mạnh (năm 2024 là 116.000 tỷ đồng, tăng 19,5%). Đã tích hợp Sổ Sức khỏe điện tử và bệnh án điện tử với trên 15,5 triệu thông tin công dân. Hơn 2,5 triệu đối tượng chính sách được nhận trợ cấp an sinh xã hội và 78% người dân nhận lương hưu, trợ cấp BHXH qua tài khoản.
Hạ tầng số và các nền tảng số được quan tâm đầu tư; cơ sở dữ liệu quốc gia, chuyên ngành được đẩy mạnh triển khai; kết nối, tích hợp, chia sẻ dữ liệu có bước phát triển. Từ tháng 10/2024, Việt Nam đã chính thức thương mại hóa dịch vụ viễn thông 5G. Tốc độ internet của Việt Nam năm 2024 xếp thứ 37, tăng 7 bậc so với năm 2023. Ngày 19/12/2024, đưa thêm 1 tuyến cáp quang biển đi quốc tế lớn nhất từ trước đến nay vào hoạt động, nâng năng lực truyền dẫn internet quốc tế của Việt Nam lên gấp đôi. Cơ sở Dữ liệu quốc gia về dân cư được đẩy mạnh, đem lại hiệu quả thiết thực. Hoàn thành cấp 100% căn cước gắn chip cho công dân đủ điều kiện; kích hoạt trên 60 triệu tài khoản định danh điện tử; cung cấp 40 tiện ích trên ứng dụng VNeID, tăng 27 tiện ích so với năm 2023; làm sạch 35,1 triệu dữ liệu giấy phép lái xe; đối soát thông tin sinh trắc của 56,8 triệu hồ sơ khách hàng ngành ngân hàng.
Dịch vụ công trực tuyến phục vụ người dân, doanh nghiệp ngày càng được hoàn thiện, từng bước xây dựng nền hành chính chuyên nghiệp, hiện đại (đã triển khai 54/76 dịch vụ công trực tuyến thiết yếu). Việt Nam có bước tiến mạnh mẽ trong xếp hạng về chuyển đổi số quốc tế. Chỉ số Phát triển chính phủ điện tử năm 2024 tăng 15 bậc, xếp hạng 71/193. Chỉ số Đổi mới sáng tạo toàn cầu năm 2024 tăng 2 bậc, xếp hạng 44/133. Chỉ số An toàn, an ninh mạng toàn cầu năm 2024 tăng 8 bậc, xếp hạng 17/194.
Tại Phiên họp tổng kết hoạt động năm 2024, Ủy ban Quốc gia về chuyển đổi số và Đề án 06 năm 2024 đã đề ra phương hướng, nhiệm vụ trọng tâm năm 2025 với 5 tăng tốc, bứt phá, đó là: Tăng tốc, bứt phá trong chuyển đổi số, đưa công nghệ số lan tỏa đến mọi lĩnh vực của nền kinh tế, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế trên 8% năm 2025 và ở mức hai con số trong những năm tiếp theo. Tăng tốc, bứt phá trong số hóa các ngành kinh tế, tạo ra bước nhảy vọt về năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh. Tăng tốc, bứt phá trong phát triển hạ tầng số, xây dựng nền tảng vững chắc cho nền kinh tế số, phải ưu tiên và xác định có trọng tâm, trọng điểm. Tăng tốc, bứt phá trong phát triển nhân lực số, trang bị kiến thức, kỹ năng cho thế hệ tương lai, sẵn sàng nắm bắt các cơ hội trong kỷ nguyên số. Tăng tốc, bứt phá trong phát triển Chính phủ số, xã hội số, công dân số, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, phục vụ người dân, doanh nghiệp.
Triển khai thực hiện với Chủ đề chuyển đổi số năm 2025 là: Chuyển đổi số toàn dân, toàn diện, toàn trình để tăng tốc, bứt phá phát triển kinh tế số, các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ; Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương cần nêu gương đi đầu, tiên phong trong nhận thức, đổi mới tư duy, phương pháp luận về chuyển đổi số; chỉ đạo quyết liệt những nhiệm vụ chậm tiến độ, tháo gỡ những khó khăn, điểm nghẽn theo nguyên tắc lãnh đạo từ trên xuống, nhưng tổ chức thực hiện, tháo gỡ vướng mắc phải từ dưới lên.
Phấn đấu đến hết năm 2025, 100% thủ tục hành chính đủ điều kiện theo quy định của pháp luật được cung cấp dưới hình thức dịch vụ công trực tuyến toàn trình, 80% hồ sơ thủ tục hành chính được xử lý trực tuyến, 40% dân số trưởng thành sử dụng dịch vụ công trực tuyến. Đến ngày 30 tháng 6 năm 2025, tất cả lãnh đạo, cán bộ, công chức các bộ, ngành, địa phương phải xử lý hồ sơ công việc trên môi trường mạng và sử dụng chữ ký số để giải quyết công việc.
5. Tích cực, chủ động triển khai các giải pháp thúc đẩy kinh tế tuần hoàn, sản xuất và tiêu dùng bền vững, thương mại bền vững
Trong những năm gần đây, hợp tác quốc tế giữa Việt Nam và Liên minh châu Âu (EU) được đẩy mạnh góp phần thúc đẩy thương mại và tăng trưởng kinh tế theo hướng bền vững. EU là thị trường xuất khẩu lớn thứ 3 của Việt Nam, với kim ngạch xuất khẩu đạt 51,66 tỷ USD trong năm 2024, tăng 18,5% so với năm 2023 và là đối tác Việt Nam luôn đạt thặng dư thương mại cao. Với tác động tích cực có ý nghĩa của Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - EU (EVFTA), triển vọng xuất khẩu sang thị trường EU ngày càng lớn mạnh, kéo theo đó là triển vọng thu nhập gia tăng của hàng chục triệu lao động tham gia chuỗi sản xuất, góp phần thúc đẩy tăng trưởng, hướng đến nền kinh tế xanh, tuần hoàn tại Việt Nam.
Mặc dù vậy, các doanh nghiệp đang đối mặt những thách thức mới đến từ các chính sách xanh của EU. Năm 2020, Ủy ban châu Âu đã thông qua Thỏa thuận xanh với mục tiêu giảm 55% lượng phát thải ròng vào năm 2030 so với năm 1990 và đạt trung hòa các-bon vào năm 2050. Thỏa thuận xanh châu Âu bao gồm các chiến lược, chương trình, kế hoạch hành động, văn bản chính sách, pháp luật cụ thể với các nội dung, chính sách, quy định ngày càng chặt chẽ đối với sản phẩm nhập khẩu và tiêu dùng theo hướng xanh, tuần hoàn, bền vững. Các thỏa thuận xanh của EU đặt ra những thách thức lớn cho xuất khẩu Việt Nam, song về lâu dài, việc thực hiện chủ động chuyển đổi xanh một cách đồng bộ và toàn diện tạo ra nhiều cơ hội cho doanh nghiệp, góp phần nâng cao sức cạnh tranh, mở rộng thị trường sản phẩm xanh, bền vững nhiều tiềm năng.
Nhằm hỗ trợ doanh nghiệp chuyển đổi xanh, đẩy mạnh xuất khẩu và chuỗi bền vững đáp ứng các quy định, chính sách xanh của EU và các cam kết phát triển bền vững, kinh tế tuần hoàn và biến đổi khí hậu của Việt Nam, tại Công điện số 17/CĐ-TTg ngày 20/02/2025, Thủ tướng yêu cầu tập trung đẩy mạnh công tác xây dựng và hoàn thiện các chính sách, quy định, tiêu chuẩn phù hợp các cam kết, quy định, tiêu chuẩn quốc tế về phát triển bền vững, kinh tế tuần hoàn; tập trung ưu tiên nghiên cứu các quy định, tiêu chuẩn liên quan kinh tế tuần hoàn, thiết kế sinh thái, quản lý hóa chất độc hại, quản lý chất thải và các quy định về hàm lượng tái chế đối với một số vật liệu đáp ứng các quy định, tiêu chuẩn quốc tế.
Tập trung hỗ trợ kỹ thuật về chuyển đổi xanh nhằm thúc đẩy doanh nghiệp chuyển đổi sang mô hình sản xuất, kinh doanh bền vững; áp dụng các giải pháp sản xuất sạch hơn và sử dụng hiệu quả tài nguyên, sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả, khuyến khích sử dụng nguyên vật liệu tái chế, năng lượng tái tạo; hỗ trợ doanh nghiệp áp dụng các giải pháp thiết kế đổi mới sản phẩm để có thể nâng cấp, sửa chữa, bảo trì, tái sử dụng và tái chế, kéo dài vòng đời sản phẩm; đẩy mạnh hỗ trợ áp dụng các công cụ đánh giá vòng đời sản phẩm, kiểm kê phát thải khí nhà kính nhằm đáp ứng các yêu cầu, tiêu chuẩn, quy định xanh của Liên minh châu Âu.
Tăng cường các hoạt động nghiên cứu khoa học và ứng dụng công nghệ, đổi mới sáng tạo, thúc đẩy chuyển đổi số đáp ứng yêu cầu thực tiễn và xu thế phát triển của kinh tế số và cuộc cách mạng công nghiệp 4.0; chú trọng nghiên cứu và phát triển các nguyên, nhiên vật liệu mới, tái chế, tái tạo; các hóa chất xanh, thân thiện môi trường nhằm tạo ra các sản phẩm bền vững. Xây dựng, hỗ trợ các hoạt động chứng nhận, dán nhãn sinh thái đối với các sản phẩm bền vững đáp ứng yêu cầu thị trường và các quy định quốc tế; thúc đẩy xúc tiến thương mại, tổ chức các hội chợ xanh nhằm kết nối cung cầu các sản phẩm bền vững, các sản phẩm được dán nhãn sinh thái; thúc đẩy liên kết bền vững giữa các bên trong chuỗi, hỗ trợ các doanh nghiệp trong nước tham gia các chuỗi bền vững trong nước và toàn cầu.
Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện các văn bản chính sách pháp luật về bảo vệ môi trường và biến đổi khí hậu; tổ chức triển khai kế hoạch hành động quốc gia về kinh tế tuần hoàn; đẩy mạnh xây dựng hoàn thiện và triển khai các chính sách, quy định về quản lý chất thải, các quy định thu hồi đối với các sản phẩm thải bỏ, hết hạn sử dụng; các quy định nhằm hạn chế loại bỏ chất thải độc hại trong các sản phẩm,…trong các lĩnh vực ngành chịu tác động lớn từ chính sách xanh của EU. Đẩy mạnh tổ chức triển khai các chính sách, quy định về trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất EPR, thúc đẩy áp dụng các giải pháp phân loại rác tại nguồn, tăng cường thu gom, thu hồi, giảm thiểu, tái sử dụng, tái chế; hạn chế chất thải phát sinh và giảm thiểu tác động xấu đến môi trường.
Đẩy mạnh công tác đào tạo, nâng cao năng lực, phổ biến, hướng dẫn việc thực hiện các quy định, chính sách xanh, kinh tế tuần hoàn, ứng phó biến đổi khí hậu và tăng trưởng xanh, phát triển bền vững trong các lĩnh vực ngành thuộc phạm vi quản lý nhà nước của các bộ. Ưu tiên triển khai các giải pháp, bố trí và huy động nguồn lực phù hợp trong việc triển khai các chương trình, nhiệm vụ liên quan đến phát triển bền vững, kinh tế tuần hoàn, sản xuất và tiêu dùng bền vững, sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả; bảo vệ môi trường, ứng phó biến đổi khí hậu và tăng trưởng xanh. Nghiên cứu, đánh giá các công cụ tài chính xanh của EU nhằm hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam chuyển đổi xanh, thực hành sản xuất kinh doanh, thương mại và xuất khẩu bền vững đáp ứng các yêu cầu thực tiễn và quy định chính sách xanh, phát triển bền vững...
6. Thực hiện các giải pháp thúc đẩy, hỗ trợ nông dân
Tại Hội nghị đối thoại với nông dân năm 2024 (lần thứ 6) với chủ đề: Khơi dậy khát vọng làm giàu để xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc; vững tin bước vào kỷ nguyên mới, Thủ tướng Chính phủ đã kết luận các nhóm vấn đề quan trọng yêu cầu các bộ, cơ quan, địa phương tập trung giải quyết, đó là:
Tiếp tục tháo gỡ các điểm nghẽn về thể chế, hoàn thiện cơ chế, chính sách về đất đai, thuế, phí, lệ phí, về vốn tín dụng để tạo điều kiện cho phát triển nông nghiệp, nông thôn; quan tâm và chú trọng vào công tác quy hoạch, nhất là quy hoạch ngành, quy hoạch các khu, cụm công nghiệp phục vụ sản xuất, chế biến nông sản; tiếp tục rà soát các quy định của pháp luật để giải phóng nguồn lực từ đất đai, phát huy cao nhất hiệu quả từ đất đai; tập trung giải quyết các cơ chế, chính sách về vốn tín dụng và bảo hiểm nông nghiệp, thúc đẩy hình thành chuỗi liên kết trong sản xuất nông nghiệp; tiếp tục có các giải pháp tập trung mở cửa thị trường nông sản, nhất là thị trường thực phẩm Halal, ưu tiên xây dựng thương hiệu nông sản Việt Nam; đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, phát triển trí tuệ nhân tạo trong ngành nông nghiệp tại Việt Nam; tăng cường đổi mới công tác đào tạo nghề theo hướng đào tạo nhân lực chất lượng cao và chuyển đổi nhân lực từ khu vực nông nghiệp, nông thôn sang khu vực công nghiệp và đô thị; chú trọng phát triển, đổi mới văn hóa trong nông nghiệp, nông thôn; hệ thống chính trị cơ sơ phải luôn nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của người nông dân và chuyển tải chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước tới người nông dân, định kỳ tổ chức lắng nghe, đối thoại với người nông dân.
Để cụ thể hóa kết luận nêu trên, các bộ, ngành cần triển khai một số giải pháp quan trọng sau: Tháo gỡ các khó khăn, điểm nghẽn trong sản xuất và tổ chức sản xuất nông nghiệp hiện nay để khơi thông nguồn lực của người nông dân để xây dựng thành công nông nghiệp sinh thái, nông thôn hiện đại, nông dân văn minh. Tiếp tục tập trung hoàn thiện thể chế, xây dựng cơ chế, chính sách, chiến lược, quy hoạch, tổ chức triển khai hiệu quả 04 quy hoạch ngành quốc gia trong lĩnh vực nông nghiệp; chuyển đổi mạnh từ tư duy sản xuất sang tư duy kinh tế nông nghiệp, từ phát triển đơn ngành sang hợp tác, phát triển đa ngành; thúc đẩy tích hợp đa giá trị trong sản phẩm nông lâm thủy sản; xây dựng cơ chế, chính sách đột phá của đột phá cho sản xuất, xóa bỏ mọi rào cản về đất đai, thủ tục hành chính, chi phí tuân thủ các quy định đối với người dân, doanh nghiệp; thực hiện đồng bộ, hiệu quả các chương trình, đề án, dự án, nhiệm vụ để đẩy mạnh cơ cấu lại nông nghiệp theo 3 nhóm trục sản phẩm chủ lực (quốc gia, vùng, địa phương).
Tổng kết, đánh giá kết quả xây dựng thí điểm 5 vùng nguyên liệu nông sản hàng hóa tập trung, hướng dẫn địa phương xây dựng và phát triển các vùng nguyên liệu, sản xuất hàng hóa tập trung, quy mô lớn đáp ứng yêu cầu của thị trường trong nước và xuất khẩu. Tổ chức lại và đổi mới các hình thức sản xuất trong nông nghiệp, nông thôn. Phát triển các hình thức tổ chức sản xuất phù hợp, hiệu quả gắn với quá trình chuyển đổi số, kinh tế số trong nông nghiệp, nông thôn.
Tập trung ưu tiên hình thành nhiều hợp tác xã, tổ hợp tác trong nông nghiệp có quy mô lớn, hiệu quả. Làm tốt công tác dự báo thị trường kết nối giữa người sản xuất với tiêu dùng, tranh thủ lợi thế từ các FTAs, nhất là EVFTA, CTPPP (Hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương) để cơ cấu lại thị trường xuất khẩu, giảm sự phụ thuộc vào một số thị trường, tháo gỡ rào cản để thâm nhập thị trường mới còn nhiều tiềm năng, đặc biệt là thị trường thực phẩm Halal.
Xây dựng cơ chế, chính sách đẩy mạnh nuôi biển và khai thác hải sản bền vững; có các giải pháp nhằm bảo vệ nguồn lợi thủy sản và đa dạng sinh học tại các ngư trường; tập trung giải quyết dứt điểm các khuyến nghị của EC để gỡ Thẻ vàng trong năm 2025, ngăn chặn và xử lý nghiêm tầu cá khai thác trái phép ở nước ngoài; nghiên cứu, đề xuất trích lập Quỹ phát triển hạ tầng thủy sản để có thể tập hợp, huy động được nguồn lực cho đầu tư phát triển hạ tầng thủy sản. Khuyến khích, hỗ trợ, thúc đẩy chế biến, bảo quản nhằm đa dạng hoá sản phẩm, đảm báo chất lượng, an toàn thực phẩm, nâng cao giá trị gia tăng và giảm tổn thất sau thu hoạch các sản phẩm nông lâm thuỷ sản.
Rà soát các văn bản quy định của pháp luật về đất đai theo hướng mọi quy định đều hướng tới giải phóng nguồn lực từ đất đai, phát huy cao nhất hiệu quả từ đất đai. Tạo điều kiện thuận lợi hơn cho người nông dân, tăng cường phổ biến thông tin về chính sách đất đai đối với đồng bào dân tộc thiểu số; hướng dẫn sâu rộng để người nông dân nắm bắt, vận dụng các chính đất đai mới này để phát triển kinh tế gia đình, kinh tế nông thôn và tham gia xây dựng nông thôn mới bền vững.
7. Kế hoạch triển khai thực hiện chủ trương đổi mới, phát triển và nâng cao chất lượng giáo dục nghề nghiệp
Trong những năm qua, giáo dục nghề nghiệp luôn được Đảng, Nhà nước quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, đạt nhiều kết quả quan trọng. Nhận thức về giáo dục nghề nghiệp trong xã hội được nâng lên. Chính sách, pháp luật từng bước được hoàn thiện. Hệ thống giáo dục nghề nghiệp được hình thành theo hướng mở, liên thông, cơ bản phù hợp với các nước trên thế giới. Mạng lưới cơ sở giáo dục nghề nghiệp phát triển mạnh; các điều kiện bảo đảm chất lượng đào tạo được tăng cường, bước đầu hình thành một số cơ sở đào tạo và chương trình đào tạo chất lượng cao theo chuẩn quốc tế. Tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề có bằng cấp, chứng chỉ; tỷ lệ lao động có việc làm phù hợp với kỹ năng nghề và trình độ đào tạo tăng; nhiều học sinh, sinh viên đạt giải thưởng cao trong các kỳ thi tay nghề khu vực và thế giới; lao động Việt Nam từng bước tham gia và đảm nhận nhiều vị trí công việc trước đây do chuyên gia nước ngoài đảm nhiệm.
Nhằm thực hiện các mục tiêu của Chỉ thị số 21-CT/TW, ngày 04/5/2023 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về đổi mới, phát triển và nâng cao chất lượng giáo dục nghề nghiệp đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, Kế hoạch triển khai đã được ban hành bởi Quyết định số 247/QĐ-TTg, ngày 06/02/2025 đưa ra các nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm sau:
Đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục, tạo chuyển biến nhận thức sâu sắc về vai trò, vị trí, tầm quan trọng của giáo dục nghề nghiệp đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045; bổ sung, hoàn thiện cơ chế, chính sách tuyển dụng, sử dụng, đãi ngộ, tôn vinh đối với nhà giáo, nghệ nhân, chuyên gia, người dạy nghề; thu hút, tuyển dụng cán bộ quản lý nhà nước về giáo dục nghề nghiệp và cán bộ quản lý cơ sở giáo dục nghề nghiệp. Tiếp tục rà soát, hoàn thiện cơ chế, chính sách nhằm đẩy mạnh công tác hướng nghiệp trong trung học phổ thông; phân luồng học sinh sau phổ thông vào giáo dục nghề nghiệp; xây dựng cơ chế, chính sách thu hút người học thuộc các lĩnh vực, ngành, nghề trọng điểm, ngành, nghề nặng nhọc, độc hại, văn hóa nghệ thuật, thể dục thể thao, sức khỏe...
Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, kịp thời phát hiện, xử lý nghiêm tổ chức, cá nhân vi phạm pháp luật về giáo dục nghề nghiệp; nâng cao tính tự chủ của cơ sở giáo dục nghề nghiệp, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, xây dựng cơ chế tự kiểm tra, giám sát của các cơ sở giáo dục nghề nghiệp; phát triển hệ thống đánh giá, kiểm định chất lượng giáo dục nghề nghiệp. Sắp xếp, tổ chức lại hệ thống cơ sở giáo dục nghề nghiệp công lập đảm bảo tinh gọn, hiệu quả, bảo đảm về quy mô, cơ cấu và hợp lý về ngành, nghề, trình độ đào tạo, chuẩn hóa, hiện đại hóa, có phân tầng chất lượng, đáp ứng nhu cầu nhân lực của thị trường lao động, phù hợp với quy hoạch mạng lưới cơ sở giáo dục nghề nghiệp.
Phát triển, chuẩn hóa và cập nhật kịp thời các bộ tiêu chuẩn trong giáo dục nghề nghiệp tiếp cận chuẩn của các nước phát triển trong khu vực ASEAN và thế giới; hiện đại hóa cơ sở vật chất, thiết bị đào tạo của cơ sở giáo dục nghề nghiệp, phù hợp với công nghệ sản xuất của doanh nghiệp, định hướng phân tầng chất lượng và đặc thù các ngành, nghề đào tạo; tăng cường gắn kết với doanh nghiệp để khai thác, sử dụng thiết bị đào tạo tại doanh nghiệp nhằm bảo đảm học đi đôi với hành; phát triển mô hình nhà trường thông minh, hiện đại; nhà trường xanh.
Phát triển đội ngũ nhà giáo, chuyên gia, người dạy nghề và cán bộ quản lý trong giáo dục nghề nghiệp. Tổ chức, sắp xếp hệ thống cơ sở đào tạo, bồi dưỡng nhà giáo theo hướng phân bố hợp lý theo vùng, miền, đáp ứng nhu cầu phát triển đội ngũ nhà giáo; đổi mới, nâng cao chất lượng, đa dạng hoá các chương trình, phương thức đào tạo, bồi dưỡng; đào tạo, bồi dưỡng cho nhà giáo giảng dạy ngành, nghề trọng điểm cấp độ ASEAN, quốc tế tại nước ngoài.
Nâng cao hiệu quả liên kết, hợp tác về giáo dục nghề nghiệp giữa Nhà nước - Nhà trường - Doanh nghiệp. Xây dựng các mô hình gắn kết giáo dục nghề nghiệp với doanh nghiệp, hợp tác xã, cơ sở sản xuất - kinh doanh và thị trường lao động theo từng vùng, địa phương, phù hợp với từng nhóm đối tượng, trong đó chú trọng đối tượng đặc thù, lao động từ khu vực phi chính thức, lao động bị thất nghiệp hoặc có nguy cơ thất nghiệp. Tăng cường gắn kết giữa cơ sở giáo dục nghề nghiệp và các trung tâm dịch vụ việc làm, sàn giao dịch việc làm, hội chợ việc làm, trung tâm khởi nghiệp đổi mới sáng tạo; hỗ trợ người học tìm việc làm sau tốt nghiệp; gắn kết đào tạo với việc đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng.
Mở rộng, nâng cao hiệu quả hợp tác toàn diện giữa Việt Nam và các nước, các tổ chức quốc tế trong lĩnh vực giáo dục nghề nghiệp. Hình thành mạng lưới chuyên gia quốc tế trong lĩnh vực giáo dục nghề nghiệp; tăng cường hợp tác giữa các cơ sở giáo dục nghề nghiệp của Việt Nam với các cơ sở giáo dục nghề nghiệp nước ngoài. Nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ quản lý, nhà giáo về nghiên cứu khoa học, tư vấn hướng nghiệp, khởi nghiệp; hình thành các trung tâm khởi nghiệp đổi mới sáng tạo tại các cơ sở giáo dục nghề nghiệp chất lượng cao.
8. Một số mục tiêu phấn đấu trong các chính sách về người cao tuổi
Năm 2024, số lượng người già từ 60 tuổi trở lên ở nước ta là 14,2 triệu người. Dự báo đến năm 2030, số người từ 60 tuổi trở lên sẽ xấp xỉ 18 triệu người, tăng gần 4 triệu người so với năm 2024. Với quan điểm người cao tuổi là nguồn lực quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, trong kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình phát triển giàu mạnh, thịnh vượng của dân tộc; phát huy tối đa tiềm năng, vai trò, kinh nghiệm, tri thức của người cao tuổi trong các lĩnh vực; đảm bảo người cao tuổi được thực hiện đầy đủ các quyền lợi và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật; Đảng và Nhà nước ta đã có sự quan tâm đặc biệt, thể hiện quan nhiều chế độ, chính sách, trong đó có một số chính sách sau:
Chiến lược quốc gia về người cao tuổi đến năm 2035, tầm nhìn đến năm 2045 được phê duyệt bởi Quyết định số 383/QĐ-TTg, ngày 21/02/2015 nêu rõ các mục tiêu phấn đấu vì người cao tuồi: Giai đoạn 2025 - 2030, ít nhất 50% người cao tuổi có nhu cầu và khả năng lao động có việc làm; ít nhất 100.000 người cao tuổi được hỗ trợ hướng nghiệp, đào tạo chuyển đổi nghề nghiệp tại các cơ sở giáo dục nghề nghiệp, cơ sở trợ giúp xã hội, trung tâm dịch vụ việc làm; ít nhất 100.000 hộ gia đình có người cao tuổi có nhu cầu và đủ điều kiện được vay vốn khởi nghiệp, phát triển sản xuất, kinh doanh với lãi suất ưu đãi.
Ít nhất 60% số xã, phường, thị trấn có các loại hình câu lạc bộ văn hóa, văn nghệ, thể dục, thể thao của người cao tuổi thu hút người cao tuổi tham gia luyện tập thể dục, thể thao, văn hóa, văn nghệ; ít nhất 50% số xã, phường, thị trấn có câu lạc bộ liên thế hệ tự giúp nhau hoặc các mô hình câu lạc bộ chăm sóc và phát huy vai trò người cao tuổi; ít nhất 80% xã, phường, thị trấn có Quỹ chăm sóc và phát huy vai trò người cao tuổi.
100 % người cao tuổi có thẻ bảo hiểm y tế; ít nhất 90% người cao tuổi được chăm sóc sức khỏe ban đầu kịp thời, khám sức khỏe định kỳ, lập hồ sơ theo dõi sức khỏe; 100% người cao tuổi khi ốm đau, dịch bệnh được khám chữa bệnh và được hưởng sự chăm sóc của gia đình và cộng đồng. Ít nhất 50% bệnh viện đa khoa, bệnh viện chuyên khoa (trừ bệnh viện chuyên khoa Nhi, bệnh viện Điều dưỡng - Phục hồi chức năng), bệnh viện y học cổ truyền có quy mô từ 50 giường bệnh trở lên tổ chức buồng khám bệnh riêng cho người cao tuổi tại khoa khám bệnh, bố trí giường bệnh điều trị nội trú cho người cao tuổi và 50% các bệnh viện đa khoa, chuyên khoa cấp tỉnh có khoa lão khoa.
Hàng năm, ít nhất 80% người cao tuổi có hoàn cảnh khó khăn, bệnh tật được tiếp cận các dịch vụ y tế dưới nhiều hình thức khác nhau; 70% người cao tuổi khuyết tật được sàng lọc, phát hiện các dạng khuyết tật và được can thiệp, phục hồi chức năng; ít nhất 10.000 người cao tuổi có hoàn cảnh khó khăn, không có người phụng dưỡng được chăm sóc, phục hồi chức năng và trợ giúp phù hợp tại các cơ sở phục hồi chức năng và cơ sở trợ giúp xã hội.
100% người cao tuổi tâm thần nặng, người cao tuổi lang thang được tiếp nhận, chăm sóc, phục hồi chức năng tại các cơ sở trợ giúp xã hội; 100% người cao tuổi không phải sống trong nhà tạm, dột nát; 100% người cao tuổi nghèo, không có người phụng dưỡng được hưởng các chính sách trợ giúp xã hội theo quy định của pháp luật.
Ít nhất 80% người cao tuổi có khó khăn về tài chính, bị bạo lực, bạo hành được cung cấp dịch vụ trợ giúp pháp lý theo quy định của pháp luật trợ giúp pháp lý khi có nhu cầu; ít nhất 50% gia đình có người cao tuổi bị bệnh suy giảm trí nhớ, khuyết tật nặng và có vấn đề khó khăn khác được tập huấn, hướng dẫn, nâng cao nhận thức, kỹ năng về chăm sóc, trợ giúp và phục hồi chức năng cho người cao tuổi. Ít nhất 80% các cơ quan báo, đài trung ương và địa phương có chuyên mục về người cao tuổi được phát hành, truyền dẫn, phát sóng ít nhất 01 lần/tuần; ít nhất 50% người cao tuổi tiếp cận và sử dụng được các sản phẩm công nghệ thông tin, truyền thông.
Đến năm 2045, hoàn thiện, nâng cao chất lượng hệ thống cơ chế, chính sách về người cao tuổi theo hướng đầy đủ, đồng bộ, toàn diện, hiện đại, bền vững, đảm bảo tiến bộ và công bằng xã hội; tạo điều kiện bảo vệ, chăm sóc và phát huy hiệu quả tiềm năng, vị thế, vai trò, kinh nghiệm của người cao tuổi; bảo đảm an sinh và phúc lợi xã hội cho người cao tuổi phù hợp với yêu cầu của giai đoạn “dân số già”, góp phần thực hiện mục tiêu phát triển đất nước trong kỷ nguyên phát triển giàu mạnh, thịnh vượng của dân tộc và xây dựng con người Việt Nam toàn diện.
Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương